Home / Tổng hợp / Chiến lược kinh doanh của hợp tác xã

Chiến lược kinh doanh của hợp tác xã

Chiến lược kinh doanh của hợp tác xã

Phát triển kinh tế tập thể (KTTT) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được xác định nhất quán và xuyên suốt tại các nghị quyết Đại hội Đảng. Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy, mặc dù đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả bước đầu đáng khích lệ, nhưng sự phát triển của khu vực KTTT, hợp tác xã (HTX) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Xu hướng phát triển HTX trong thời kỳ mới

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, khu vực KTTT, HTX có nhiều cơ hội phát triển, song cũng đối diện với nhiều thách thức đòi hỏi Nhà nước, cũng như cộng đồng HTX phải có một tư duy mới, cách nhìn mới và có các giải pháp nhằm phát triển HTX một cách bền vững. Trong đó, việc phát triển của khu vực HTX phải dựa trên các giá trị cốt lõi sau:

HTX là thể chế không thể thiếu được để phát triển đất nước hài hoà về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, là tất yếu đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân, cá thể, đáp ứng các nhu cầu phong phú của đời sống cộng đồng theo các nguyên tắc HTX.

HTX thực sự là một tổ chức tự nguyện của thành viên, dựa trên nền tảng thành viên, kinh tế thành viên, một mặt khuyến khích hợp tác giữa thành viên theo tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển, mặt khác tôn trọng cá nhân thành viên, phát huy cao vai trò cá nhân của thành viên, kinh tế thành viên HTX.

HTX trước hết phải phục vụ phát triển kinh tế thành viên, mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho thành viên. HTX và kinh tế thành viên là hai thể chế độc lập, nhưng gắn kết với nhau, cùng phát triển. Với chức năng cung cấp dịch vụ phục vụ đời sống thành viên, đời sống cộng đồng, HTX có vai trò xã hội quan trọng trong việc góp phần cải thiện đời sống thành viên và gia đình họ, gắn kết các thành viên HTX thành cộng đồng chặt chẽ toàn diện về các mặt, gắn liền cộng đồng thành viên với cộng đồng dân cư tại địa phương.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển HTX thông qua tạo khung khổ pháp luật, ban hành chính sách hỗ trợ HTX, đảm bảo HTX thực hiện được tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội quan trọng của mình. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước không mang tính bao cấp, mà chỉ mang tính “bà đỡ”, tạo đà cho HTX tự phát triển. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của HTX.

Thực tiễn phát triển, cũng như nhiều nghiên cứu gần đây trên thế giới về HTX cho thấy, khu vực HTX trong thời đại công nghiệp 4.0 và trong thời đại toàn cầu hoá không những không giảm đi, ngược lại còn tăng lên. Khu vực này một mặt cần phải tự thay đổi thích nghi với điều kiện mới, mặt khác cần đảm nhận thêm các chức năng mới trong một nền kinh tế và một xã hội được toàn cầu hoá không chỉ có cơ hội mà còn có nhiều thách thức mới, to lớn, nhất là về mặt xã hội và môi trường.

Tại sao phải xây dựng Chiến lược phát triển KTTT, HTX?

Sau 5 năm triển khai thi hành Luật Hợp tác xã, khu vực KTTT với nòng cốt là HTX đã có sự chuyển biến tích cực về cả chất và lượng, thể hiện vai trò quan trọng khu vực này đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và nông thôn nói riêng. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã và đang tiếp tục triển khai sâu rộng tại các địa phương, sự nỗ lực vào cuộc của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, người dân để thúc đẩy phong trào HTX phát triển. Hiện nay, ước thực hiện năm 2018, cả nước có 21.787 HTX, trong đó có 1.711 HTX được thành lập mới. Doanh thu của HTX và thu nhập của người lao động được cải thiện, tác động tích cực đến kinh tế hộ thành viên.

Mặc dù đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả bước đầu đáng khích lệ, nhưng sự phát triển của khu vực KTTT, HTX vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các cơ chế chính sách ban hành, nhưng chưa thực sự đi vào cuộc sống. Sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với khu vực này còn hạn chế và hơn hết là bản thân các HTX vẫn còn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực quản lý. Hoạt động của các HTX còn thiếu gắn bó với nhau, với cộng đồng doanh nghiệp, chưa có sự liên kết hệ thống chặt chẽ cả về kinh tế, xã hội và tổ chức.

Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến cho khu vực kinh tế HTX phát triển chưa tương xứng với tiềm năng là do hạn chế về cơ chế, chính sách khi chưa có chiến lược tổng thể cho phát triển kinh tế của khu vực KTTT, HTX. Trình độ lao động, quản lý còn yếu, ít vốn đầu tư công nghệ và chưa liên kết với các doanh nghiệp uy tín để tìm thị trường, bao tiêu sản phẩm… Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ khiến các HTX khó cạnh tranh, tồn tại, phát triển so với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

phát triển kinh tế tập thể

Trong điều kiện sản xuất hàng hóa, năng suất, chất lượng sản phẩm quyết định cơ bản đến sự phát triển của doanh nghiệp và các HTX. Chính vì vậy, việc sản xuất, kinh doanh của các HTX cũng phải đi theo xu thế chung là mở rộng quy mô và áp dụng khoa học, kỹ thuật, giảm giá thành sản phẩm, thì mới tồn tại, phát triển lâu dài, mang lại lợi ích kinh tế cho người dân và xã hội.

Để đạt được vấn đề này, cần có chiến lược, chính sách tổng thể, lâu dài phát triển KTTT, HTX. Trong khi, đất nước ta đã qua 3 kỳ chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội là: 1991-2000; 2001-2010 và 2011-2020, riêng lĩnh vực KTTT, HTX chưa có một chiến lược nào mang tính chất tổng thể, lâu dài, định hướng phát triển KTTT, HTX. Chính vì thế, tại Hội nghị trực tuyến sơ kết thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã đề ra một trong những giải pháp phát triển KTTT, HTX trong thời gian tới là cần phải xây dựng Chiến lược phát triển KTTT, HTX. Nhiệm vụ này đã được cụ thể tại Chỉ thị số 12/CT- TTg, ngày 22/05/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục tăng cường công tác triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Chiến lược phát triển KTTT, HTX đến năm 2030 để có định hướng tổng thể, lâu dài cho phát triển HTX.

Nội dung của Chiến lược

Chiến lược Phát triển KTTT, HTX đến năm 2030 là kim chỉ nam thống nhất cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền trong phát triển KTTT và trong huy động các nguồn lực đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo Nghị quyết của Đảng. Phát triển KTTT, HTX bền vững là yêu cầu xuyên suốt Chiến lược, xuất phát từ nhu cầu của người dân, tổ chức tham gia. Phải tôn trọng giá trị, nguyên tắc hoạt động của các HTX phù hợp với điều kiện, đặc điểm, mục tiêu phát triển của từng địa phương và cả nước.

Định hướng của Chiến lược: Định hướng chung của chiến lược là khuyến khích phát triển KTTT, HTX trên tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế, trên mọi vùng lãnh thổ; thu hút mọi giới, thành phần xã hội tham gia; bảo đảm quyền và lợi ích của thành viên tham gia HTX.

Trên cơ sở định hướng chung, sẽ xây dựng định hướng chiến lược theo ngành, lĩnh vực (định hướng chiến lược phát triển KTTT, HTX trong các lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp, thủy sản; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; Xây dựng; Thương mại; Giao thông vận tải; Tài chính, ngân hàng; Nước sạch và môi trường; Nhà ở; Y tế; Trường học và các lĩnh vực khác) và định hướng chiến lược theo vùng, lãnh thổ (Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đông Nam Bộ).

Các nhóm giải pháp thực hiện

Để thực hiện được Chiến lược với mục tiêu phát triển hiệu quả mô hình KTTT, HTX, thì bộ, ngành Trung ương và địa phương, toàn xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo động lực để mô hình này phát triển bền vững, mang lại lợi ích cụ thể, lâu dài cho người lao động. Tại Chiến lược, dự kiến đề ra 9 nhóm giải pháp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tuyên truyền nâng cao nhận thức về KTTT, HTX: Tập trung giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm thống nhất nhận thức cho toàn bộ hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ Luật Hợp tác xã năm 2012, bản chất mô hình HTX kiểu mới, hiểu rõ các giá trị và 7 nguyên tắc HTX, sự khác nhau giữa HTX kiểu cũ và kiểu mới; vai trò và lợi ích của tổ chức HTX trong phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế – xã hội đất nước nói chung; tuyên truyền vị trí, vai trò của KTTT, HTX đối với nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt đối với nông nghiệp, nông dân; củng cố niềm tin của thành viên, HTX thành viên, cộng đồng xã hội về mô hình HTX kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012; đưa bộ môn KTTT, HTX vào một số trường đại học, trường Đảng, khuyến khích phát triển các trung tâm, cơ sở nghiên cứu về HTX…

Thứ hai, hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách: Tiếp tục rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012 để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế; thực hiện và tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển HTX, phù hợp bản chất (tránh bao cấp), nhu cầu, trình độ phát triển của tổ chức HTX và phù hợp với khả năng nguồn lực của Nhà nước; tập trung nguồn lực Nhà nước hỗ trợ xây dựng thí điểm một số chuỗi giá trị hành hóa chủ lực để từ đó nhân rộng…

Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, gắn liền với công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp trong phát triển HTX: Kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về KTTT từ Trung ương đến địa phương, từ tỉnh đến huyện, thị xã; thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật hợp tác xã, xử lý vi phạm pháp luật HTX, đi đôi với việc cần thiết phải huy động cả hệ thống chính trị trong việc phát triển KTTT, HTX; đưa phát triển KTTT, HTX là một trọng tâm công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng; quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về HTX…

Thứ tư, xây dựng mô hình HTX và tổng kết mô hình: Nghiên cứu, khảo sát mô hình kinh tế tập thể có hiệu quả, bố trí nguồn lực hỗ trợ cho việc xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX điểm; lựa chọn một số HTX có quy mô phù hợp để hỗ trợ xây dựng mô hình liên kết chuỗi với doanh nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao; tập trung nguồn lực hỗ trợ cho việc xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX điểm…

Thứ năm, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX: Tập trung chỉ đạo quyết liệt để hoàn thành việc đăng ký lại các HTX đang hoạt động, giải thể các HTX ngừng hoạt động; tăng cường năng lực tổ chức, điều hành, hoạt động, kinh doanh cho các HTX, các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến sản phẩm; từng bước mở rộng quy mô hoạt động của các HTX. Bên cạnh phương thức sáp nhập, hợp nhất để tăng quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, HTX có thể liên kết kinh tế với các HTX khác cùng hoạt động trên cùng lĩnh vực, ngành nghề trên nhiều địa bàn lãnh thổ khác nhau để nâng cao hiệu quả, giảm chi phí, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường; khuyến khích các cán bộ trẻ có trình độ về làm việc trong HTX…

Thứ sáu, huy động nguồn lực xã hội để phát triển KTTT, HTX: Nguồn lực trong nước; phát triển hợp tác quốc tế về KTTT, HTX (Khuyến khích hợp tác quốc tế trong phát triển KTTT, HTX, nhất là trong việc tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước, vùng lãnh thổ có phong trào HTX mạnh. Tiếp thu các hỗ trợ phát triển trong việc thành lập và nâng cao năng lực HTX)…

Thứ bảy, tăng cường vai trò, trách nhiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam: Hệ thống Liên minh HTX là tổ chức đại diện cho quyền lợi của các HTX, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, vận động phát triển HTX; tăng cường tư vấn, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho việc hình thành và phát triển HTX; đổi mới, nâng cao năng lực của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, tăng cường các cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về HTX, phải nắm vững được những nội dung cơ bản về Luật Hợp tác xã, nguyên tắc, tổ chức của HTX, cũng như các kỹ năng hỗ trợ HTX; củng cố hệ thống Liên minh HTX, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò, trách nhiệm của Liên minh HTX trong phát triển HTX. Mở rộng hoạt động của Liên minh HTX trong một số lĩnh vực dịch vụ công…

Thứ tám, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, hội, hiệp hội trong phát triển KTTT: Cấp ủy và chính quyền các cấp hỗ trợ, tạo điều kiện và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, hội, hiệp hội trong việc tuyên truyền, vận động thành viên tham gia HTX, đưa Luật HTX năm 2012 vào cuộc sống; động viên, khuyến khích các hội viên đi đầu tham gia xây dựng các mô hình điểm về KTTT, như: HTX, liên hiệp HTX, tổ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là nông thôn; phối hợp với các bộ, ngành trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật về KTTT tới các hội viên; đưa các nội dung này thành các trọng tâm trong chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm của các cấp đoàn, hội…

Thứ chín, xây dựng chương trình, dự án mang tính đột phá: Chương trình hỗ trợ phát triển KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025; Đề án “Lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025”./.

Phương án kinh doanh hợp tác xã nông nghiệp

 3.Mục tiêu và chiến lược phát triển của HTX:

          3.1. Mục tiêu: Tạo ra khối lượng lớn sản phẩm quả có múi chất lượng cao, mẫu mã đẹp và đảm bảo an toàn thực phẩm, trên cơ sở quản lý và giám sát tốt các công đoạn từ khâu tổ chức sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm.

          3.2. Chiến lược phát triển:

          – 100% diện tích canh tác CAQ có múi của HTX được chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm và chứng nhận VietGAP/GlobalGAP.

          – 100% sản phẩm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật được tiêu thụ qua hợp đồng và có thể truy xuất nguồn gốc.

          – Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm (trên 5%) so với canh tác nông hộ ngoài hợp tác xã.

          – Bảo vệ sức khỏe người lao động và môi trường; duy trì và cải tạo độ phì của đất canh tác.

          – Xây dựng, quảng bá và phát triển thương hiệu HTX Nông nghiệp Mường Động.

          4. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã

          4.1. Nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của thành viên HTX:  Với 100% thành viên tham gia HTX đều có diện tích trồng CAQCM khá lớn, đều cần các sản phẩm dịch vụ sau:

          – Thuê lao động phổ thông.

          – Cung cấp vật tư đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật).

          – Tư vấn kỹ thuật canh tác, quản lý chất lượng, quản lý dịch bệnh.

          – Thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định. Được sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tập thể.

          4.2. Dự kiến các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã:

          – Đáp ứng 100% nhu cầu về giống cây ăn quả có múi của xã viên; chất lượng giống đảm bảo yêu cầu kỹ thuật theo quy định.

          – Dịch vụ, cung ứng ít nhất 80% các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo nhu cầu của xã viên; đồng thời tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc BVTV an toàn và hiệu quả. Riêng đối với lượng phân chuồng, sẽ tổ chức đấu thầu cung cấp theo tổng nhu cầu của các thành viên HTX.

          – Tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, quản lý dịch bệnh, quản lý sinh thái, quản lý chất lượng theo nhu cầu của xã viên.

          – Tiêu thụ 100% đối với những sản phẩm đạt yêu cầu kỹ thuật và được nghiệm thu, giám sát về an toàn thực phẩm.

          4.3. Xác định các hoạt động sản xuất, kinh doanh:

          – Đầu tư nâng cấp và hoàn thiện cơ sở pháp lý của 01 cơ sở sản xuất giống cây ăn quả có múi đáp ứng nhu cầu xã viên và cung cấp cho bên ngoài.

          – Đâu tư nâng cấp và vận hành 01 cửa hàng dịch vụ chuyên cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho xã viên HTX và nhu cầu bên ngoài, trong đó giảm giá thành cho thành viên HTX ít nhất 2% so với giá bán lẻ bình thường.

          – Thống nhất quy trình kỹ thuật cơ bản và hệ thống quản lý chất lượng để áp dụng trong toàn bộ HTX, đầu tư trang bị vật dụng thiết yếu đề đảm bảo việc kiểm định, giám sát về an toàn thực phẩm của các vườn cây.

          – Thu mua sản phẩm của xã viên HTX đã được giám sát và chứng nhận ATTP; tiến hành sơ chế, bao gói, gắn nhãn mác trước khi đưa ra thị trường và đến tay người tiêu dùng.

          5. Kế hoạch Marketing sản phẩm:

          – Thiết kế và không ngừng cải tiến mẫu mã, bao gói; Biên soạn và phát hành tài liệu, tờ rơi về hợp tác xã và sản phẩm của HTX.

          – Chủ động đưa sản phẩm tham gia các hội chợ, lễ hội, các dịp xúc tiến thương mại.

          – Xây dựng và vận hành hiệu quả website về hợp tác xã Mường Động.

          – Chủ động ký kết, hình thành hệ thống phân phối sản phẩm tại các thị trường lớn, trong đó tập trung chủ lực cho thị trường Hà Nội và một số thành phố lớn phía Bắc.

          – Phát huy mối quan hệ của tất cả các thành viên HTX nhằm không ngừng quảng bá sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường một cách rộng rãi, đa dạng.

          6. Phương án đầu tư cơ sở vật chất, bố trí nhân lực và các điều kiện khác phục vụ sản xuất, kinh doanh:

          – Tranh thủ cơ chế chính sách hiện hành và góp vốn đối ứng để xây dựng trụ sở HTX; đầu tư khu sơ chế, phân loại, đóng gói sản phẩm; khi đủ điều kiện sẽ đầu tư đồng bộ hệ thống bảo quản sản phẩm để kéo dài thời gian cung ứng sản ohaamr ra thị trường.

          – Đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với logo hợp tác xã; thiết lập và quản lý, sử dụng hiệu quả mã số, mã vạch và nhãn hiệu hàng hóa.

          – Đầu tư in ấn bao bì, nhãn mác phục vụ khâu tiêu thụ sản phẩm.

          – Hoàn thành việc xây dựng quy chế và thực hiện theo quy chế làm việc với Hội đồng quản trị; ban kiểm soát; Ban giám đốc HTX và bộ phận tham mưu, giúp việc. Phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX.

          IV. Phương án tài chính

          1. Phương án huy động và sử dụng vốn

          1.1.Huy động vốn: Nguồn vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX đã huy động từ các nguồn:

          – Vốn góp cổ phần của xã viên;

          – Huy động vốn từ xã viên và đối tác;

          – Vốn từ quỹ đầu tư phát triển sản xuất được trích lại hàng năm theo tỷ lệ quy định tại Điều lệ.

          – Vốn tín dụng.

          – Vốn tài trợ từ các nguồn (nếu có).

          1.2.Sử dụng vốn:

          – Trong năm đầu, nguồn vốn của HTX chủ yếu sử dụng để đầu tư, trang bị cho các nội dung: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; chứng nhận an toàn thực phẩm; In ấn bao bì, nhãn mác, tờ rơi; tham gia triển lãm, hội chợ giới thiệu sản phẩm; thiết lập hệ thống phân phối sản phẩm; chi phí hành chính để duy trì HTX.

          – Trong các năm tiếp theo khi có doanh thu, bắt đầu đầu tư về hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị theo yêu cầu hoạt động và đầu tư sản xuất giống, kinh doanh cung ứng vật tư vv. Mức đầu tư cho từng nội dung căn cứ cụ thể mức doanh thu, khả năng huy động vốn và sự tài trợ từ các chương trình, dự án (nếu có).

          2. Phương án về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong 03 năm đầu

          Năm thứ nhất (2016): Dự kiến sản lượng tiêu thụ cho xã viên HTX khoảng 70 tấn, doanh thu (sau khi đã trừ chi phí mua sản phẩm của xã viên) dự kiến đạt 350 triệu. Với doanh thu này bù đắp được khoảng 80% chi phí cho các hoạt động đăng ký, chứng nhận và thương mại sản phẩm.

          Năm thứ hai (2017): Dự kiến tiêu thụ 500 tấn sản phẩm cho xã viên HTX; doanh thu (sau khi đã trừ chi phí mua sản phẩm của xã viên) dự kiến đạt 2,5 tỷ đồng.

          Năm thứ ba (2018): Dự kiến tiêu thụ 1.500 tấn sản phẩm cho xã viên HTX; doanh thu (sau khi đã trừ chi phí mua sản phẩm của xã viên) dự kiến đạt 7,5 tỷ đồng. Từ năm thứ ba bắt đầu vận hành ổn định hệ thống dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất, lãi dòng từ hoạt động này phấn đấu đạt trên 100 triệu/năm.

          Hàng năm có báo cáo chi tiết của Ban quản trị, Ban kiểm soát về doanh thu, chi phí, lợi nhận trình Đại hội thường niên của HTX theo quy định tại Luật HTX và Điều lệ HTX Nông nghiệp Mường Động./.

Hợp tác xã có đăng ký kinh doanh không

Việc đăng ký kinh doanh theo hình thức hợp tác xã được thực hiện theo Luật Hợp tác xã.

So sánh hợp tác xã với hộ kinh doanh

* Hộ  kinh doanh
 Là một trong những hình thức tổ chức kinh tế của cá nhân hoặc gia đình lâu đời và thông dụng nhất ở Việt Nam.nhưng không được coi là một loại hình doanh nghiệp
Hộ kinh doanh có những đặc điểm sau:
– Do một cá nhân là công dân Việt Nam, một nhóm người hoặc Hộ gia đình làm chủ
– Chỉ được phép có một địa điểm kinh doanh, sử dụng thường xuyên dưới mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động của Hộ kinh doanh
– Không được phép phát hành chứng khoán để huy động vốn
Hộ kinh doanh không chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp năm 2014 do không có quy mô, tổ chức nhất định.
* Hợp tác xã
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.
Cũng như Hộ kinh doanh, Hợp tác xã là một trong những hình thức tổ chức kinh tế của cá nhân hoặc hộ gia đình lâu đời nhất ở Việt Nam.
– Là hình thức tập thể do các thành viên đồng sở hửu
– Thành viên của hợp tác xã chủ yếu là cá nhân
– Là một pháp nhân
– Không được điều chỉnh bởi luật doanh nghiệp mà là do Luật Hợp tác xã điều chỉnh
– Hoạt động theo mục tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các thành viên hợp tác xã
tag:tải   ahp   nẵng   giấy   gì   hồ   khương   tạm   thao   điện

Gọi Ngay!