Hoàn Cảnh Ra Đời Nhà Hồ

Hồ Quý Ly sinh năm 1336, tên là Lê Quý Ly, tự là Lý Nguyên, quê ở Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Trong Đại Việt sử ký toàn thư có chép: Tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, vốn người Triết Giang bên Trung Quốc, vào thời Hậu Hán (947- 950), được vua Hán cử sang làm Thái thú Châu Diễn (Diễn Châu- Nghệ An). Vào thời loạn 12 sứ quân, họ Hồ trở thành một trại chủ. Vào thời Lý, dòng họ có người lấy được công chúa; đến đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm (được làm con nuôi của Tuyên úy Lê Huấn) đổi tên Lê Liêm theo họ Lê. Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Liêm. Mẹ của Hồ Quý Ly là con gái của Phạm Bân {quan Thái y dưới triều vua Trần Anh Tông (1293- 1314)}, hai người cô trong họ lấy vua Trần Minh Tông (1314- 1329), một bà sinh ra vua Trần Nghệ Tông ( 1370-1372) được phong là Minh Từ Thái hậu, một bà sinh ra vua Trần Duệ Tông (1372- 1377) được phong làm Đôn Từ Thái phi. Bản thân Hồ Quý Ly lấy con gái vua Trần Minh Tông là công chua Huy Ninh. Sau này, con gái đầu của Hồ Quý Ly là Khâm Thánh lại lấy vua Trần Thuận Tông (1388-1389) sinh ra Trần Án (tức Trần Thiếu Đế). Năm Kỷ Dậu (1369), vua Trần Dụ Tông mất, vua Trần Nghệ Tông nhu nhược, Hồ Quý Ly được nắm trong tay nhiều quyền hành, được phong làm Khu mật Đại sứ.

Nhà Hồ được thành lập trong hoàn cảnh nào

– Vào cuối thế kỉ XIV, các cuộc đấu tranh của nông dân đã làm cho nhà Trần suy yếu, làng xã tiêu điều, dân đinh giảm sút. Nhà Trần không còn đủ sức giữ vai trò của mình, nên sự sụp đổ là khó tránh khỏi.

– Giữa lúc đó, xuất hiện một nhân vật mới là Hồ Quý Ly.

Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm (Hồ Liêm từ quê Nghệ An ra Thanh Hoá, được một viên quan đại thần họ Lê nhận làm con nuôi). Ông là người có tài năng, lại có hai người cô là phi tần của vua Trần Minh Tông và sinh hạ được ba vị vua cho nhà Trần, nhờ đó ông Tất được vua Trần trọng dụng. Hồ Quý Ly đã nắm giữ được chức vụ cao nhất trong triều đình.

– Sau vụ một số quý tộc nhà Trần mưu giết Hồ Quý Ly không thành (1399), năm 1400, ông phế truất vua Trần và lên làm vua, đổi quốc hiệu là Đại Ngu => nhà Hồ được thành lập.

Quốc hiệu “Đại Ngu” bắt nguồn từ truyền thuyết cho rằng họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn- một vị vua của Trung Hoa cổ đại, nổi tiếng vì đã đem lại sự bình yên và thịnh vượng cho dân chúng. Chữ “Ngu”có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”. “Đại Ngu thể hiện ước vọng của nhà Hồ về một giang sơn bình yên và rộng lớn. Trong lịch sử đã ghi nhận những đóng góp to lớn của nhà Hồ nhằm thực hiện mong muốn này. Ngay từ cuối thời Trần, Hồ Quý Ly đã thực hiện những cải cách sâu sắc, nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng của xã hội. Sau khi ông lên ngôi, đã đẩy mạnh các cuộc cải cách này và đem lại nhiều đổi thay cho đất nước về các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội. Dưới quốc hiệu Đại Ngu, người Việt cũng được chứng kiến những thành tựu về khoa học- kỹ thuật: phát minh súng thân cơ, thuyền chiến hai tầng, hệ thống thủy lợi quy củ, công trình kiến trúc hoành tráng… Tuy nhiên, sự bình yên thịnh vượng mà quốc hiệu Đại Ngu hướng tới chỉ tồn tại trong 7 năm ngắn ngủi. Trước cuộc xâm lược của nhà Minh, nhà Hồ đã bị sụp đổ vào 4- 1407, đồng thời, chấm dứt sự tồn tại của quốc hiệu Đại Ngu.

Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới1 . Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

 

 

 

 

Tag: sơ thuốc như doanh nghiệp