Nghỉ việc thế nào cho đúng luật

Luật sư tư vấn trường hợp đã chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật nhưng công ty không chi trả các vấn đề về tiền lương và phúc lợi, đồng thời yêu cầu làm thêm thời gian và cách thức giải quyết vấn đề

Câu hỏi: Em hiện tại là nhân viên 1 cty phần mềm, nhưng công việc ban lãnh đạo sắp xếp không thoải đáng : thời gian cả ngày là đi triên khai phần mềm và ngồi chat skype, nghe điện thoại để hỗ trợ khách hàng, rồi còn muốn e code , e cố gắng 1 thời gian làm ban đêm mà công ty thì nói không có kêu. Nên em không thể nào tiếp tục được. Em vừa mail xin nghỉ việc vào ngày 15 tháng 1/2018, ngay lâp tức CEO kêu nghỉ liền hoặc cuối tháng , nhưng e cố gắng làm đủ 45 ngày ( tính đên ngày 2 tháng3/2018). Và sự viêc phát sinh : Công ty không trả tiền tết tây, âm lịch và bỏ đi 1 số quyền lợi em đáng được có và công ty buộc em code đến khi nào khách hàng nghiệm thu thì mới cho e nghỉ. Câu hỏi : Công ty làm như vậy đúng pháp luật không ạ? Em có quyền nghỉ vào ngày 2/3 (đủ 45 ngày theo quy định pháp luật- vì hợp đồng của e làm hợp đồng không thời hạn) Em kính mong Luật sư tư vấn giúp em ạ! Em chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, thì việc sắp xếp thời gian và khối lượng công việc của công ty đối với bạn là không hợp lý. Vậy việc sắp xếp này có trái với thỏa thuận đã giao kết trọng hợp đồng lao động hai bên đã ký không? Nếu có, bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 – Bộ luật Lao động như sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, tùy theo loại hợp đồng lao động mà bạn ký kết với công ty là hợp đồng xác định thời hạn hay khôg xác định thời hạn mà số ngày báo trước cũng điều chỉnh theo từng quy định. Nếu hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng không xác định thời hạn, thì khi báo trước cho công ty 45 ngày trước khi nghỉ, bạn đã đảm bảo điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật.

Khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật, công ty có trách nhiệm thanh toán hết các khoản quyền lợi về lương và các chế độ khác, đồng thời chốt và trả sổ BHXH cho bạn theo quy định tại Điều 47 – Bộ luật lao động 2012:

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Theo đó, việc công ty không trả tiền lương nghỉ Tết cho bạn là không đúng quy định, vì thời gian nghỉ Tết bạn vẫn đang thực hiện hợp đồng lao động với công ty, nên các khoản tiền lương trong thời gian này bạn vẫn có quyền hưởng. Bộ luật lao động cũng có quy định về vấn đề này tại Điều 115 như sau:

Điều 115. Nghỉ lễ, tết

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch 05 ngày;

Do đó, luật đã quy định những ngày nghỉ lễ Tết dương lịch và âm lịch là nghỉ hưởng nguyên lương nên công ty phải có trách nhiệm chi trả tiền lương những ngày này cho bạn vì khi đó bạn vẫn đang là nhân viên của công ty và hợp đồng lao động chưa chấm dứt.

Việc công ty yêu cầu bạn làm việc đến khi khách hàng nghiệm thu sản phẩm chỉ có thể mang tính chất thỏa thuận giữa hai bên chứ không thể yêu cầu bạn phải làm theo chỉ thị đó. Vì khi báo trước đủ cho công ty số ngày quy định trước khi nghỉ là bạn đã đảm bảo điều kiện để chấm dứt hợp đồng lao động với công ty mà không vi phạm chế định gì của pháp luật, việc công ty muốn bạn làm thêm thời gian sau thời gian 45 ngày phải được sự đồng ý của bạn, chứ không thể dùng đó làm căn cứ để ép buộc hay không trả lương cho bạn.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể làm việc với Ban giám đốc công ty để làm rõ vấn đề hoặc khiếu nại lên Phòng Lao động – Thương binh và xã hội.