Trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia thuế giá trị gia tăng luôn đóng vai trò then chốt. Đây là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa dịch vụ tiêu dùng cuối cùng vừa là nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước vừa là công cụ điều tiết kinh tế hiệu quả. Tuy nhiên chính vì có ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng và doanh nghiệp nên mỗi thay đổi trong chính sách thuế giá trị gia tăng đều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và thực hiện thận trọng. Luật số 31/2013/QH13 được Quốc hội ban hành trong bối cảnh nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng với mục tiêu vừa hỗ trợ thị trường bất động sản vừa cải thiện môi trường kinh doanh và đảm bảo thu ngân sách một cách bền vững.
Bối cảnh ban hành
Thời điểm năm 2013 thị trường bất động sản trong nước rơi vào tình trạng đóng băng kéo dài. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về thanh khoản, lượng hàng tồn kho lớn và người dân mất niềm tin vào thị trường. Để khơi thông dòng tiền bên cạnh các giải pháp về tín dụng và chính sách đất đai, một biện pháp mạnh mẽ khác là điều chỉnh chính sách thuế trong đó có thuế giá trị gia tăng. Luật số 31/2013/QH13 ra đời nhằm giảm gánh nặng thuế cho người mua nhà hỗ trợ các doanh nghiệp bất động sản và tạo đà hồi phục cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó nền kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn nhưng vẫn khó kiểm soát về thuế. Việc miễn thuế cho các hộ kinh doanh có doanh thu thấp dưới một ngưỡng nhất định là bước đi nhằm hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận hệ thống thuế từ đó mở rộng cơ sở thuế về lâu dài.

Những điểm mới nổi bật trong luật
Một trong những điểm thay đổi quan trọng nhất của luật là quy định về mức thuế suất áp dụng cho nhà ở thương mại có diện tích nhỏ và giá bán thấp. Để hỗ trợ người dân có thu nhập trung bình tiếp cận nhà ở luật cho phép giảm 50 phần trăm thuế giá trị gia tăng đối với loại hình nhà này trong một khoảng thời gian nhất định. Đây được xem là biện pháp cấp thời giúp giải quyết lượng hàng tồn kho và kích thích cầu tiêu dùng trong lĩnh vực bất động sản.
Bên cạnh đó luật xác lập mức thuế suất ưu đãi 5 phần trăm cho các dự án nhà ở xã hội. Chính sách này thể hiện rõ định hướng an sinh xã hội trong chính sách thuế tạo điều kiện cho người lao động thu nhập thấp có cơ hội sở hữu nơi ở ổn định. Không chỉ hỗ trợ người mua nhà, ưu đãi thuế này còn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào phân khúc nhà ở xã hội, vốn trước đây chưa thực sự hấp dẫn do biên lợi nhuận thấp.
Ngoài ra Luật số 31/2013/QH13 mở rộng danh mục hàng hóa dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng. Các nhóm hàng hóa thuộc lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục, y tế, tài chính như bảo hiểm, dịch vụ tín dụng cũng được xem xét miễn thuế hoặc áp dụng mức thuế suất thấp nhằm giảm chi phí cho người tiêu dùng và khuyến khích phát triển các dịch vụ công thiết yếu.
Luật cũng đưa ra quy định cụ thể hơn về đối tượng được miễn thuế. Theo đó hộ kinh doanh cá thể có doanh thu dưới 100 triệu đồng mỗi năm không phải nộp thuế giá trị gia tăng. Đây là chính sách mang tính khoan sức dân đồng thời tạo điều kiện để các hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ tự giác kê khai với đăng ký và từng bước tham gia vào hệ thống thuế một cách chính thức.
Một nội dung khác không kém phần quan trọng là quy định về khấu trừ và hoàn thuế. Luật làm rõ điều kiện để được khấu trừ thuế đầu vào và quy định rõ ràng hơn việc thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những điều kiện để được hoàn thuế. Điều này nhằm kiểm soát rủi ro gian lận thuế đồng thời thúc đẩy xu hướng thanh toán hiện đại, minh bạch trong nền kinh tế.
Tác động thực tiễn của luật
Luật số 31/2013/QH13 được đánh giá là đã phát huy tác dụng rõ rệt trong việc hỗ trợ thị trường bất động sản. Việc giảm thuế cho nhà ở thương mại nhỏ và nhà ở xã hội đã giúp cải thiện thanh khoản cho doanh nghiệp đồng thời tạo điều kiện để người mua nhà tiếp cận sản phẩm phù hợp với khả năng tài chính. Nhờ đó nhiều dự án trước đây tồn đọng đã được tái khởi động và thị trường có dấu hiệu hồi phục tích cực từ năm 2014 trở đi.
Đối với người dân đặc biệt là người thu nhập thấp, chính sách ưu đãi thuế góp phần thiết thực vào việc hiện thực hóa giấc mơ an cư. Trong khi đó các hộ kinh doanh nhỏ lẻ được miễn thuế cũng giảm áp lực chi phí đồng thời được khuyến khích hoạt động minh bạch và lâu dài.
Đối với cơ quan quản lý việc luật hóa các điều kiện khấu trừ và hoàn thuế giúp siết chặt kiểm soát gian lận đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống kế toán minh bạch đáp ứng chuẩn mực về hóa đơn và thanh toán.
Một số điểm cần tiếp tục hoàn thiện
Mặc dù mang lại nhiều hiệu quả luật vẫn bộc lộ một số hạn chế. Việc xác định đối tượng được hưởng ưu đãi thuế cần dựa trên tiêu chí rõ ràng hơn để tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng chính sách để chia nhỏ dự án hoặc khai báo không trung thực. Bên cạnh đó công tác kiểm tra sau hoàn thuế cần được tăng cường nhằm phát hiện kịp thời hành vi trục lợi từ chính sách ưu đãi.
Ngoài ra một bộ phận doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp khó khăn khi áp dụng điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế. Việc mở rộng mạng lưới thanh toán phi tiền mặt tại vùng sâu vùng xa là điều kiện quan trọng để bảo đảm công bằng trong tiếp cận chính sách thuế.
Luật số 31/2013/QH13 là bước điều chỉnh chính sách thuế giá trị gia tăng theo hướng gần dân sát thực tiễn và hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Việc giảm thuế miễn thuế cả ưu đãi có chọn lọc không chỉ giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp mà còn thúc đẩy tiêu dùng tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
