Sâm bố chính là gì – Tìm hiểu về sâm bố chính

Sâm bố chính là gì

Sâm bố chính hay còn được gọi là thổ hào sâm, sâm báo,… Nhiều nơi gọi là sâm bổ chính hoặc bố chính sâm. Tên khoa học là Abelmoschus sagittifolius. Là loài cây thân thảo, chiều cao trung bình trên 1 mét, phần thân cây chủ yếu mọc đứng, nhiều khi mọc bám vào các cây khác để phát triển bình thường.

Sâm bố chính có mấy loại?

Cây thường được dùng phần rễ để làm thuốc, thu hoạch chủ yếu vào mùa Đông. Sâm bố chính có mấy loại tùy thuộc vào màu sắc của hoa, có loại màu vàng, có loại màu hồng phấn, đỏ,…

Mặt khác, tùy vào vị trí địa lý mà người ta đặt tên cho nó như sâm bố chính Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Phước,… chứ không heo một sự phân loại cụ thể nào.

Mô tả về cây sâm bố chính

Đặc điểm thực vật

  • Thân: Cây thân thảo, có chiều cao khoảng 1m. Thân cây chủ yếu mọc đứng. Đôi khi nó có thể mọc bám vào các cây khác để phát triển.
  • Lá: Lá màu xanh, gốc lá hình trái xoan và cuối phiến lá lại có hình dáng tương tự như mũi tên. Bề mặt lá có nhiều lông.
  • Hoa: Sâm bố chính ra hoa đơn có 5 cánh, màu hồng phớt vàng hay đỏ. Hoa mọc ở kẽ lá và có đường kính khoảng 8cm. Cuống hoa dài, đầu trên hơi phình ra, bên ngoài phủ lông cứng.
  • Quả: Hình trứng, một đầu nhọn, chia làm 5 múi, bên ngoài phủ lông. Quả non màu xanh, khi chín sẽ chuyển sang màu nâu và nứt ra thành 5 mảnh rõ ràng.
  • Hạt: Trong quả chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu, hình dáng tương đối giống quả thận.

Dược liệu

Rễ sâm bố chính có hình dáng bên ngoài giống nhân sâm, màu vàng nhạt hoặc trắng. Đường kính trung bình của rễ dao động từ 1,5 – 2cm.

Phân bố

Sâm bố chính là cây bản địa của Việt Nam. Cách đây khoảng 300 năm, thảo dược này đã được tìm thấy ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) theo dạng mọc hoang.

Ngày nay, với nhiều lợi ích được phát hiện, sâm bố chính được trồng rộng rãi để làm thuốc. Nhiều nhất là ở các tỉnh Nam Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên, chẳng hạn như Phú Yên, Gia Lai hay Bình Định.

Bộ phận dùng

Rễ sâm bố chính là bộ phận được dùng để bào chế thuốc

Thu hái – Sơ chế:

Rễ sâm bố chính thường được thu hoạch vào mùa đông. Tùy theo nhu cầu dùng tươi hay khô mà có cách sơ chế khác nhau:

  • Sâm tươi: Sau khi đào về, rễ được rửa sạch đất cát, cắt bỏ hết rể con xung quanh, ngâm với nước vo gạo rồi để qua một đêm. Vớt ra cho ráo nước trước khi đem ngâm với rượu trên 40 độ hoặc sắc uống.
  • Sâm khô: Sau bước ngâm nước vo gạo thì thái mỏng hoặc để nguyên cả củ đồ chín. Phơi hoặc sấy khô.

Bảo quản

Bảo quản dược liệu nơi khô ráo, tránh để bị ẩm mốc

Thành phần hóa học

Theo GS Đỗ Tất Lợi, trong rễ sâm bố chính chứa khoảng 30 – 45% là chất nhầy và tinh bột.

Một báo cáo của PGS TS Trần Công Luận và các cộng sự được thực hiện vào năm 2001 đã ghi nhận thêm rất nhiều thành phần hóa học có trong rễ cây sâm bố chính được trồng tại Bạc Liêu như:

  • Phytosterol
  • Coumarin
  • Acid béo,
  • Acid hữu cơ
  • Đường khử
  • Hợp chất uronic
  • 3,96% lipid, chủ yếu là các chất acid myrisric, acid myrisric hay acid oleic,…
  • 0,23g % protein toàn phần
  • 1,26% protid
  • 15,14% tinh bột
  • 18,92% chất nhày bao gồm D-glucose, L-rhamnose
  • 11 loại acid amin
  • Cùng nhiều loại khoáng chất như canxi, magie, natri, sắt, mangan, đồng, photpho, nhôm, zirconi…

Gần đây, các nhà khoa học còn phát hiện trong sâm bố chính có các chất như Acyl hibiscone B, (R)-de-O-methyllasiodiplodin hay hibiscone B. Đáng lưu ý, hợp chất Acyl hibiscone B trong loại sâm này còn thể hiện độc tính tế bào, có tác dụng chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc sâm bố chính

Dùng cho trẻ con lao phổi:

Sâm bố chính 6-10g 180g nước, si rô Cam thảo 200g ngày uống 1 thìa.

Dùng chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều

Sâm bố chính ngày 10-16g sắc nước uống

Chữa sốt nóng lâu, khát nước, ra mồ hôi:

Sâm Bố chính 20g, thục địa 30g, nhục quế 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa ra mồ hôi nhiều, người còn ấm, chân tay quyết lạnh:

Sâm Bố Chính 20g, hoàng kỳ 80g (tẩm nước phòng phong sao), đương quy 20g (tẩm mật rượu sao), phục linh 12g (tẩm sữa), chích thảo 8g, lộc nhung 8g (đều nung nghiền nhỏ). Sắc uống trong ngày.

Chữa gầy yếu hay béo bệu, kém ăn, mỏi mệt khí đoản, đày bụng đi lỏng hoặc hư hoả phát nóng, phiền khát:

Sâm Bố Chính 40g, bạch truật 20g (sao mật), hoàng kỳ 8g (sao mật), liên nhục 6g, mạch môn 4g, ngũ vị 4g (sao mật), chích thảo 4g, phục tử ches 1,2g, táo ta vài quả, gừng nướng vài lát. Sắc uống trong ngày.

Chữa tiêu hoá, bài tiết bị ngừng trệ:

Sâm Bố Chính 20g, bạch truật 40g (tẩm sữa sao), trầm hương 4g. Sắc riêng sâm Bố Chính và bạch truật rồi mài trầm hương vào, uống trong ngày.

Chữa trẻ em gầy còm xanh xao, hay đi lỏng, lỵ kéo dài:

Sâm Bố Chính sao chín 25%, hoài sơn sao chín 30%, ý dĩ sao chính 20%, hạt sen sao chín 15%, bạch chỉ sao chín 10%. Các vị đem tán nhỏ rây bột mịn, cho uống sống với nước đường hoặc trộn với đường đun chảy. Trẻ em 2 tuổi trở lên, ngày 4 – 10g.

Chữa rối loạn kinh nguyệt:

Sâm Bố Chính 16g; cỏ nhọ nồi sao vàng, thục địa, mỗi vị 20g; ngải cứu sao, ích mẫu, mỗi vị 16g; củ gai (cây gai làm bánh) 12g, củ gấu (tứ chế) 10g. Sắc uống trong ngày

Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh về hô hấp:

Sâm Bố Chính 12g, liên nhục 20g; táo nhân, tua sen, sa sâm, mỗi vị 12g; lá vông, hương phụ, mỗi vị 10g; kỷ tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh về tiêu hoá, sau khi ốm nặng hoặc lao động vất vả:

Sâm Bố Chính 180g; hoài sơn, hạt sen, mỗi vị 80g; bạch truật 40g; binh lang 8g. Tán bột mịn, mỗi ngày uống 20g.

Chữa suy nhược gầy rộc, háo khát, táo bón, đái són:

Sâm Bố Chính nấu thành cao, hoà với cao ban long uống.

Chữa giai đoạn hồi phục sau áp xe phổi:

Sâm Bố Chính, hoài sơn, mỗi vị 16g; sinh địa, ý dĩ, bách hợp, kim ngân hoa, mỗi vị 12g. Sắc uống mỗi ngày một thang.

Chữa thiếu máu:

Sâm Bố Chính, hà thủ ô, hạt sen, mỗi vị 100g; cam thảo 40g; thảo quả 12g; đại hồi 8g. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 20g, chia 2 lần.

Chữa tim đập nhanh hồi hộp, ngủ ít:

Sâm Bố Chính 20g; hạt sen, củ mài, hà thủ ô, rau má, quả dâu chính, long nhãn, mỗi vị 12g; táo nhân, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Sắc uống mỗi ngày một thang.

Chữa đái ra dưỡng chất:

Sâm Bố Chính, ý dĩ, tỳ giải, huyền sâm, trúc diệp, liên nhục, củ mài, rễ cỏ trah, cam thảo nam, mã đề, mỗi vị 12g; hoạt thạch 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa bệnh trầm cảm:

Sâm Bố Chính 16g; hoài sơn, hà thủ ô, long nhãn, bá tử nhân, mỗi vị 12g; toan táo nhân, liên tu, bán hạ chế, xương bồ, cam thảo dây, mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa động kinh:

Sâm Bố Chính 20g; ý dĩ 40g; nam tam tinh sao, trần bì, toàn yết, mỗi vị 20g; quế 4g. Tán thành bột mịn, ngày dùng 40g. Sau đó lấy chu sa 1g cho vào tim lợn, hấp cách thuỷ, cho người bệnh ăn, mỗi ngày 3 lần, trong 3 tuần liền.

Chữa giai đoạn phục hồi sau khi bị bỏng:

Sâm Bố Chính, hoài sơn, ý dĩ, mỗi vị 16g; bạch truật, sa sâm, thục địa, hà thủ ô, kê huyết đằng, mỗi vị 12g; kỷ tử 10g; trần bì 8g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa suy nhược thần kinh:

Sâm Bố Chính 20g; hoàn kỳ 12g; đương quy, bạch truật, táo nhân, long nhãn, mộc hương, bạch thược, cúc hoa, mỗi vị 8g; bạch linh, viễn chí, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

Hoặc Sâm Bố Chính, sinh địa, mỗi vị 20g; hoàng cầm, sài hồ, đại táo, mỗi vị 12g; đương quy, bạch thược, mỗi vị 8g; xuyên khung 6g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

Thuốc bổ dùng cho bệnh nhân hen suyễn khi đỡ lên cơn:

Sâm Bố Chính 200g, đậu đen 500g; hà thủ , ngải cứu, củ đinh lăng, mỗi vị 200g; mật ong vừa đủ. Tán nhỏ làm hoàn. Ngày uống 24g, chia hai lần.
hoặc Sâm Bố Chính 200g, rễ dâu tằm 160g, can khương 120g, vỏ quýt 120g, tắc kè 4 con (băm nhỏ sao vàng), mật ong vừa đủ. Các vị tán nhỏ, luyện mật làm hoàn 12g. Mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 2 lần.

Thuốc bổ thận tráng dương, chữa thận suy yếu, kém dương sự:

Sâm Bố Chính 1000g, đậu đen 1500g; hoài sơn, liên nhục, cẩu tích, sừng nai, tục đoạn, ba kích, liên tu, mỗi vị 1000g; hoàng tinh 500g, hạt tơ hồng 200g. Ba kích tẩm muối sao vàng, đậu đen sao tồn tính, sừng nai đắp đất sét nung tồn tính, các vị khác tán nhỏ hợp lại thành viên. Mỗi lần uống 8 – 12g, ngày 2 lần.

Thuốc tăng lực chữa kém ăn, mất ngủ, mệt mỏi, nặng ngực, thiếu máu xanh xao:

Sâm Bố Chính 120g, hoàng tinh chế 80g; tầm gửi cây dâu, quả dâu, thỏ ty tử sao, hà thủ ô đỏ (chế), đỗ trọng mỗi vị 40g; huyết giác, ba kích, cao hổ cốt, mỗi vị 20g. Các vị sơ chế, ngâm 2 lít rượu trong hai ngày đêm rồi đem chưng cách thuỷ, hạ thổ một tuần. Mỗi lần uống 15 – 40ml, ngày 2 lần theo bữa ăn. Kiêng ăn đồ tanh sống, kích thích.

Chữa thận khí suy kém, nặng đầu, mỏi lưng, nóng nhiều, mỏi mệt, yếu sức:

Sâm Bố Chính 6g, à thủ ô 12g; củ mài, cốt toái bổ, gạc nai nướng, tầm gửi cây dâu, mỗi vị 6g; mẫu đơn, nhuỵ sen, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.

Hoàn đại bổ:

Sâm Bố Chính, củ đinh lăng, mỗi vị 100g; hà thủ ô đỏ 60g, trần bì 20g, rau thai nhi 1 bộ, mật ong vừa đủ. Rau thai lấy ở phụ nữ đẻ con so, không có bẹnh, cắt bỏ màng gân, lấy rau tươi đỏ, cào ra từng miếng để trên đĩa gốm sứ sấy cách thuỷ đến khô. Rễ đinh lăng cạo bỏ vỏ ngoài, thái mỏng phơi khô sao qua. Các vị tán nhỏ luyện mật làm hoàn 12g. Ngày uống 1 hoàn trước khi đi ngủ. Uống 15 ngày là một liệu trình.

Thuốc bổ khí huyết:

Sâm Bố Chính 30g; hoài sơn, đương quy, ý dĩ sao, mỗi vị 15g; hồi đầu 12g. Làm viên với mật ong hay kẹo mạch nha, uống mỗi ngày 15 – 20g.

Tham khảo:

Kiêng kỵ:

Thể trạng hư hàn phải tẩm nước gừng, sao kỹ.

Cách ngâm rượu sâm bố chính theo dân gian:

Bình ngâm rượu, Bình thủy tinh không vòi nhựa, không chì, bình gốm đất nung Việt Nam là tốt nhất kích thước bình tùy vào số lượng bạn muống ngâm.

Nguyên liệu sâm: Sâm tươi đã làm sạch, rửa lại bằng rượu trước khi cho vào bình.

Rượu: Rượu nấu gạo tẻ hoặc rượu nếp cổ truyền nhiệt độ tốt nhất là 30 -35 độ

Thời hạn sử dụng: thông thường thì sau 3 tháng là ngon nhất

Chú ý: Rượu tốt nhất đã được khủ độc bằng bình gốm đất nung trước khi ngâm sâm. Ngâm kèm thân và lá rượu sẽ ngon hơn

Lưu ý: Sâm bố chính được trồng trong thùng xốp, trong chậu cây cảnh, bì cát thường là thiếu chất, hoặc người trồng chăm sóc bằng Lân Đạm không tốt khi sử dụng

 

 

 

Tag: mua