Thực trạng quản lý tài chính công ở việt nam

Tài chính công là gì

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội.

Ví dụ về tài chính công

Các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được kiểm soát và tài trợ phần lớn bởi các đơn vị Chính phủ đều là các pháp nhân (trực thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ), nhưng chúng được công nhận có thực hiện các chính sách của Chính phủ. Nhiều Chính phủ lựa chọn sử dụng các thể chế phi lợi nhuận thay các cơ quan Chính phủ để thực hiện một số chính sách nhất định, do thể chế phi lợi nhuận thường được coi là khách quan và không phụ thuộc vào áp lực chính trị. Ví dụ như hoạt động của các lĩnh vực nghiên cứu, bảo vệ môi trường, y tế, giáo duc,…

Quản lý tài chính công là gì

Chính phủ (hay khu vực Chính phủ nói chung) luôn phải đảm nhận những nhiệm vụ lớn lao của cả quốc gia, dân tộc và thuộc về các chức năng vốn có của nhà nước. Cùng với quá trình phát triển phạm vi, yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước càng phong phú hơn, đa dạng hơn. Chính vì vậy, Chính phủ luôn cần có nguồn lực tài chính lớn để đáp ứng cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình. Từ đó xuất hiện khái niệm Tài chính công. Cách tiếp cận nghiên cứu để có thể đưa ra khái niệm Tài chính công cũng muôn hình muôn vẻ; nhưng ít có tài liệu đưa ra khái niệm Tài chính công một cách cụ thể, rõ ràng.

Trong cuốn “Tài chính công” của trường đại học Kinh tế quốc dân ấn hành năm 1999 để làm tài liệu phục vụ đào tạo hệ Cao học, quan niệm: “Tài chính công là một lĩnh vực của kinh tế học nghiên cứu các hoạt động của Chính phủ và các phương tiện thay thế trong việc tài trợ các chi tiêu của Chính phủ” [6, tr.2].

Điểm nổi bật của quan niệm này là khẳng định rõ chủ thể của các quan hệ thuộc phạm vi của Tài chính công là Chính phủ; và Tài chính công có thể tác động, điều chỉnh hoặc thay thế các phương tiện tài chính sao cho phục vụ tốt nhất cho các nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. Song thừa nhận “Tài chính công là một lĩnh vực của kinh tế học” thì không hợp lý; vì:

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học là các nguồn lực và cách thức phân bổ các nguồn lực đó trong xã hội sao cho công bằng và hiệu quả; còn đối tượng nghiên cứu của Tài chính công là quá trình tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng tốt nhất 1 trong 3 yếu tố đầu vào cho khu vực Chính phủ hoạt động.

Mặc dù tài chính là một lĩnh vực của kinh tế, nhưng nó không có nghĩa vụ phải giải quyết đầy đủ các vấn đề mà kinh tế học đặt ra (sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?). Thay vào đó, tài chính chỉ có trách nhiệm khơi thông các nguồn vốn và đưa chúng vào phạm vi tổng nguồn để có thể đáp ứng cho các nhu cầu sử dụng. Ví dụ: Khi Chính phủ cân nhắc sản xuất cái gì? Thì Tài chính công phải khẳng định được rằng có thể cung ứng nguồn tài chính cho nhu cầu đó ở mức nào? Cách thức quản lý tài chính cho hoạt động này sao cho hiệu quả?

Điểm yếu nữa của khái niệm trên là chưa lột tả được bản chất của Tài chính công để làm căn cứ cho việc tiếp tục nghiên cứu, triển khai, đánh giá kết quả quản lý Tài chính công trong thực tiễn. Đó là chưa kể đến những diễn biến thay đổi của thực tiễn đã soi sáng cho các nhà nghiên cứu về kinh tế phải xem xét lại mức độ chuẩn xác của khái niệm này. Ngay trong lời nói đầu cho lần xuất bản thứ hai của cuốn “Kinh tế học công cộng” tháng 3 năm 1988, Joseph E. Stiglitz đã viết: “Nếu cuốn sách này được viết cách đây 25 năm, thì nó sẽ có đầu đề là “Tài chính công cộng”, và trọng tâm của nó có thể là các nguồn thu. Tuy nhiên, đầu đề “Kinh tế học công cộng” và tầm bao trùm rộng rãi của nó không phải là ngẫu nhiên”[4, tr.25].

Trong cuốn “Public Finance in Australia: Theory and Practice” của Peter – Groenewgen, Prentice Hall, 1990, đại diện cho các nhà kinh tế Australia đã viết: “Hàng thế kỷ đã trôi qua, những cảm giác lẫn lộn về Chính phủ vẫn giữ nguyên và nhiều sự bất đồng vẫn cứ tập trung vào các hành vi tài chính của Chính phủ. Cuốn sách này viết về các hoạt động chi tiêu và thuế khóa của Chính phủ, một chủ đề thường được gọi là tài chính công” [5, tr.8].

Mặc dù không có ý định trình bày khái niệm về Tài chính công, nhưng với cách mô tả đơn giản, các tác giả cũng đã phản ánh được những khía cạnh thuộc về khái niệm của Tài chính công, như:

o Chỉ rõ mối quan hệ giữa chủ thể – Chính phủ, với công cụ quan trọng mà nhà nước phải sử dụng là Tài chính công;

o Đã mô tả rõ được hai mặt hoạt động chủ yếu của Tài chính công là Thu và Chi của Chính phủ.

Tuy nhiên, cách mô tả của nhóm các nhà kinh tế Australia nêu trên vẫn chưa đề cập đến bản chất của Tài chính công.

Trong cuốn “Finances Publiques” do nhóm các nhà khoa học hàng đầu về Tài chính công của Pháp biên soạn và đã được Bộ Tài chính Việt Nam cho dịch ra tiếng Việt để phục vụ đào tạo[3] cán bộ theo chương trình dự án Việt – Pháp FSP, đã viết: “…Trong số các môn khoa học về con người có rất ít môn khoa học vừa mang đậm tính chất chính trị với những cơ chế và vấn đề nổi cộm lại vừa mập mờ, vừa dễ sợ và lại khó hiểu với dân “ngoại đạo” đến như thế, thậm chí một số khía cạnh còn khó đối với cả các chuyên gia trong lĩnh vực này” [7, tr.33].

Nhóm tác giả của Cộng hòa Pháp cũng không dành một nội dung riêng nào để trình bày về khái niệm Tài chính công. Nhưng thông qua cách thức phân tích dẫn dắt của nhóm tác giả, người đọc cũng có thể nhóm các vấn đề có liên quan đến khái niệm Tài chính công được các tác giả trên mô tả như sau:

Thứ nhất, Tài chính công là một phạm trù lịch sử và mang bản chất giai cấp của nhà nước. “Thật vậy, do mang đậm bản chất chính trị, có lịch sử phát triển lâu đời…” [7, tr.33]. Hay “…Điều quan trọng và trước hết là phải đặt Tài chính công trong khuôn khổ của một quá trình vận hành chính trị, được hiểu theo nghĩa rộng là đời sống và tổ chức của một xã hội xét trên tổng thể” [7, tr.36].

Thứ hai, chỉ rõ vị trí của Tài chính công là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế. “Tài chính công vẫn được xem là một công cụ được sử dụng nhiều nhất để phân tích hay tạo dựng các mô hình xã hội có cơ cấu tổ chức chính trị chặt chẽ; qua đó Tài chính công không chỉ cho thấy các cơ chế mà đồng thời cho phép đưa ra các quan niệm và phương pháp mới” [7, tr.34].

Thứ ba, nội dung chính của cuốn sách dành phân tích cách thức lựa chọn để đưa ra các quyết định về chi tiêu hay thu thuế của nhà nước trung ương và địa phương nên như thế nào cho công bằng và hiệu quả; đặc biệt đề cao vai trò chủ động của chính quyền địa phương trong quản lý tài chính.

Với cách trình bày dẫn dắt vấn đề nghiên cứu của nhóm tác giả như trên, khi tập hợp lại người ta đã có thể hình dung được khái niệm tài chính công với đầy đủ các bộ phận cấu thành và bản chất của nó.

Trong cuốn “Quản lý Tài chính công” do các giảng viên của bộ môn Quản lý Tài chính nhà nước – Học viện Tài chính, biên soạn để phục vụ đào tạo chuyên ngành Quản lý Tài chính công ở bậc đại học[4], lại có cách tiếp cận khái niệm Tài chính công như sau:

“…Xét về ý nghĩa và phạm vi, thuật ngữ Tài chính công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của 2 thuật ngữ Tài chính  Công.

* Về thuật ngữ Tài chính:

Theo quan niệm phổ biến, Tài chính được hiểu là: Có biểu hiện bên ngoài là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vật chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế- quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị/quan hệ tài chính, nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ.

* Về thuật ngữ Công hay công cộng:

Xét về ý nghĩa, thuật ngữ Công có thể hiểu trên các khía cạnh: về quan hệ sở hữu (đối với tài sản, các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ) là sở hữu công cộng; về mục đích hoạt động: là vì lợi ích công cộng; về chủ thể tiến hành hoạt động: là các chủ thể công; về pháp luật điều chỉnh: là các Luật công.

Xét về phạm vi, thuật ngữ Công có thể được hiểu trên các khía cạnh: công trên phạm vi toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng; công trong phạm vi một nhóm người, một tập thể, một tổ chức. Tuy nhiên, trên phạm vi cả quốc gia, Công cần được hiểu là:

– Toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng.

– Loại trừ Công trong phạm vi hẹp của một nhóm người, một tập thể, một tổ chức.

Những luận giải trên đây cho phép rút ra nhận xét về các đặc trưng của Tài chính công là:

– Về sở hữu: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong Tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước.

– Về mục đích: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong Tài chính công được sử dụng vì lợi ích chung của toàn xã hội, của toàn quốc, của cả cộng đồng, vì các mục tiêu kinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợi nhuận.

– Về chủ thể: Các hoạt động thu, chi bằng tiền trong Tài chính công do các chủ thể công tiến hành. Các chủ thể công ở đây là Nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức của Nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động thu, chi đó (gọi chung là Nhà nước).

– Về mặt pháp luật: Các quan hệ Tài chính công chịu sự điều chỉnh bởi các “luật công”, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh – quyền uy. Khác với Tài chính công, các quan hệ tài chính tư được điều chỉnh bởi các “luật tư”, dựa trên các quy phạm pháp luật hướng dẫn, thoả thuận. Các quan hệ Tài chính công là các quan hệ kinh tế nảy sinh gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ công mà một bên của quan hệ là các chủ thể công.

Trong thực tiễn đời sống xã hội, hoạt động tài chính thể hiện ra như là các hiện tượng thu, chi bằng tiền- sự vận động của các nguồn tài chính, gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, gắn liền với sự hoạt động của các chủ thể trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau có các quỹ tiền tệ khác nhau được hình thành và được sử dụng. Có thể kể như: Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình; quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp; quỹ tiền tệ của các tổ chức bảo hiểm, tín dụng; các quỹ tiền tệ công (gọi tắt là các quỹ công). Các quỹ công là một bộ phận của hệ thống các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế và có mối quan hệ hữu cơ với quỹ tiền tệ khác đi liền với mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc giữa các chủ thể kinh tế – xã hội trong khi tham gia phân phối các nguồn tài chính.

Gắn với chủ thể là Nhà nước, các quỹ công được tạo lập và sử dụng gắn liền với quyền lực kinh tế và chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. Nói một cách khác, các quỹ công là tổng số các nguồn lực tài chính đã được tập trung vào trong tay Nhà nước và được Nhà nước sử dụng cho việc thực hiện các sứ mệnh xã hội của mình.

Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ công chính là quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của Tài chính công. Các hoạt động thu, chi bằng tiền đó là mặt biểu hiện bên ngoài của Tài chính công, còn các quỹ công là biểu hiện nội dung vật chất của Tài chính công.

Tuy vậy, cần nhận rõ rằng, quá trình diễn ra các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành trên cơ sở các luật lệ do Nhà nước quy định đã làm nảy sinh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Đó chính là các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối và sử dụng các nguồn tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ công. Các quan hệ kinh tế đó chính là mặt bản chất bên trong của Tài chính công, biểu hiện nội dung kinh tế – xã hội của Tài chính công.

Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về Tài chính công như sau:

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội [3, tr.8].

Quan niệm Tài chính công như trên cho phép nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện về Tài chính công. Quan niệm đó vừa chỉ ra mặt cụ thể, hình thức bên ngoài, nội dung vật chất của Tài chính công là các quỹ công; vừa vạch rõ mặt trừu tượng, mặt bản chất bên trong, nội dung kinh tế – xã hội của Tài chính công là các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ công.

Như đã phân tích ở trên, các quan hệ kinh tế cấu thành bản chất Tài chính công nảy sinh do Nhà nước tiến hành các khoản thu, chi trên cơ sở pháp luật do Nhà nước quy định. Điều đó có nghĩa là, các quan hệ kinh tế đó do Nhà nước định hướng, điều chỉnh thông qua các hoạt động thu, chi của Tài chính công. Từ đó cho thấy, bản chất của Tài chính công cũng chịu sự quy định bởi bản chất và phạm vi chức năng của Nhà nước thích ứng với những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau. Tài chính công thực sự trở thành công cụ của Nhà nước để phục vụ và thực hiện các chức năng của Nhà nước. Nhà nước sử dụng Tài chính công thông qua các chính sách thu, chi của Tài chính công để tác động tới sự phát triển kinh tế – xã hội nhằm giữ vững các quan hệ tỷ lệ hợp lý và thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô do Nhà nước định hướng…”.

Khái niệm về Tài chính công được trình bày trong cuốn Giáo trình Quản lý Tài chính công của Học viện Tài chính đã phản ánh được: chủ thể của các quan hệ Tài chính công; các hình thức biểu hiện và nội dung vật chất của Tài chính công; các bộ phận hợp thành của Tài chính công là các quỹ tiền tệ của nhà nước; và đặc biệt làm rõ được bản chất của các quan hệ thuộc phạm vi của Tài chính công chính là các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác. Nên chúng tôi hoàn toàn tán đồng với khái niệm này.

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận để có thể lột tả được khái niệm của Tài chính công như Giáo trình Quản lý Tài chính công nêu trên lại có vẻ rất đơn giản và không giấu được sự khiên cưỡng. Nếu người đọc đặt ra các câu hỏi: (i) Tại sao lại loại trừ Công trong phạm vi hẹp của một nhóm người, một tập thể, một tổ chức? (ii) có tồn tại “luật tư” không? Nếu có xảy ra các tranh chấp ở khu vực tư, thì “các quy phạm pháp luật hướng dẫn, thoả thuận” của “luật tư” kia có thể trở thành các căn cứ pháp lý để giải quyết không? Chắc chắn rằng những luận cứ đã nêu của Giáo trình Quản lý Tài chính công không thể giải quyết thấu lý.

Song nếu lấy cách tiếp cận khu vực công do GFS xây dựng kết hợp với những đúc kết đặc trưng và rút ra khái niệm Tài chính công của Giáo trình Quản lý Tài chính công- Học viện Tài chính, sẽ cho ta một nội dung hoàn chỉnh về khái niệm Tài chính công.

So sánh tài chính công và tài chính tư

1.1. Khái quát tài chính công ở Việt Nam

a, Bản chất của tài chính công

Dựa theo một số tiêu chí nhất định, hệ thống tài chính quốc dân được phân loại thành tài chính công và tài chính tư. Tài chính công là một thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam, do đó, ít nhiều còn chưa được thống nhất về quan niệm.

Nhiều quan niệm cho rằng thuật ngữ tài chính công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của hai thuật ngữ “tài chính” và “công”.

Về thuật ngữ tài chính: Theo quan niệm phổ biến, tài chính có biểu hiện bên ngoài là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vất chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tề; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế-quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị (gọi tắt là quan hệ tài chính) nảy sinh trong quá trình tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ.

 Về thuật ngữ công hay công công: xét về ý nghĩa, thuật ngữ công có thể hiểu trên các khía cạnh: Về quan hệ sở hữu (đối với tài sản, các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ) là sở hữu công cộng; Về mục tiêu hoạt động: là vì lợi ích công cộng; Về chủ thể tiến hành hoạt động: là các chủ thể thuộc khu vực công; Về pháp luật điều chỉnh: là các luật công.

b, Các đặc trưng của tài chính công

Về mặt sở hữu: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước.

Về mặt mục đích: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công được sử dụng vì lợi ích chung toàn xã hội, của toàn quốc và của cả cộng đồng.

Về mặt chủ thể: các hoạt động thu, chi bằng tiền trong tài chính công do chủ thể thuộc khu vực công tiến hành.

Về mặt pháp luật: các quan hệ tài chính chịu sự điều chỉnh bởi các “luật công”, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh- quyền uy. Các quan hệ tài chính công là quan hệ kinh tế nảy sinh gắn liền với công việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công mà một bên của quan hệ là chủ thể thuộc khu vực công.

Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về tài chính công như sau:

“Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội.”

Như vậy, tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của Nhà nước. Tài chính công vừa là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng vốn có của mình, vừa là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội. Tài chính công là công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Cơ cấu tài chính bao gồm:

– Ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương).

– Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước.

– Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước.

– Các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước.

c, Các chức năng của tài chính công:

Chức năng của tài chính công là các thuộc tính khách quan vốn có, là khả năng bên trong thể hiện tác dụng của xã hội của tài chính.

Tài chính nói chung có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Tài chính công là một bộ phận cấu thành quan trọng của tài chính, có nét đặc thù là gắn với thu nhập và chi tiêu của Chính phủ.

Do đó, các chức năng của tài chính công cũng xuất phát từ hai chức năng của tài chính, đồng thời có mở rộng thêm căn cứ vào nét đặc thù của tài chính công. Có thể nêu lên ba chức năng của tài chính công là tạo lập vốn, phân phối lại và phân bổ, giám đốc và điều chỉnh.

*  Chức năng tạo lập vốn

Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là điều kiện và tiền đề cho mọi hoạt động kinh tế-xã hội. Thực ra, chức năng tạo lập vốn là một khâu tất yếu của quá trình phân phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói chung, người ta thường không tách riêng ra thành một chức năng. Tuy nhiên, đối với tài chính công, vấn đề tạo lập vốn có sự khác biệt với tạo lập của các khâu tài chính khác, nó giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy, có thể tách ra thành mộtchức năng riêng biệt.

Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước. Đối tượng của quá trình này là các nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết. Đặc thù của chức năng tạo lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn với quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông qua việc thu các khoản có tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội.

*  Chức năng phân phối lại và phân bổ

Chủ thể phân phối và phân bổ là nhà nước với tư cách là người nắm giữ quyền lực chính trị. Đối tượng phân phối và phân bổ là các nguồn tài chính công tập trung trong ngân sách Nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của Nhà nước, cũng như thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà nhà nước tham gia điều tiết.

Thông qua chức năng phân phối, tài chính công thực hiện sự phân chia nguồn lực tài chính công giữa các chủ thể thuộc Nhà nước, các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế với Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước, chức năng phân phối của tài chính công nhằm mục tiêu công bằng xã hội. Tài chính công, đặc biệt ngân sách nhà nước, được sử dụng làm công cụ để điều chỉnh thu nhập của các chủ thể trong xã hội thông qua thuế và chi tiêu công.

* Chức năng giám đốc và điều chỉnh

Với tư cách là một công cụ quản lý trong tay Nhà nước, Nhà nước vận dụng chức năng giám đốc và điều chỉnh của tài chính công để kiểm tra bằng tiền đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính công và điều chỉnh quá trình đó theo các mục tiêu mà Nhà nước đề ra. Chủ thể của quá trình giám đốc và điều chỉnh là Nhà nước. Đối tượng của sự giám sát đốc và điều chỉnh là quá trình vận động của các nguồn tài chính công tròn sự hình thành vừa sử dụng các quỹ tiền tệ.

1.2. Cấu trúc của hệ thống tài chính

Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận dẫn vốn bao gồm: Tài chính doanh nghiệp, Ngân sách Nhà nước, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư và các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại.

Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chính được tạo ra, đồng thời cũng là nơi thu hút trở lại nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm vi khác nhau. Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ thường xuyên với nhau thông qua những mối quan hệ nhất định.

Tài chính doanh nghiệp

Chính tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế. trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính. Do vậy nó có khả năng tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau, quá trình kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán. mỗi quan hệ đều có những nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp. Chính sự đa dạng này phản ánh mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các bộ phận khác trong hệ thống tài chính.

Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao. Chính nhờ cơ chế này mà nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách Nhà nước ngắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện được nhiệm vụ của mình. Trong điều kiện của nền Kinh tế thị trường. Ngân sách Nhà nước còn có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô của nền kinh tế – xã hội. Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.. Để thực hiện được các vai trò đó, ngân sách nhà nước phải có các nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp. Ngân sách Nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi đầu tư kinh tế. Việc cấp phát vốn Ngân sách Nhà nước cho các mục đích khác nhau sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn. Như vậy hoạt động thu – chi của Ngân sách Nhà nước đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp dân cư, nhà nước với các nhà nước khác. Các mối quan hệ kinh tế giữa một tụ điểm vốn quan trọng: Ngân sách Nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống tài chính.

Tài chính dân cư và các tổ chức xã hội

Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính. Hoạt động tài chính của các nước có nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính ở nước ta những năm gần đây đã chỉ ra rằng: nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần to lớn vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà nước.

Tài chính đối ngoại

Trong nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ kinh tế đã quốc tế hoá thì hệ thống tài chính cũng là một hệ thống mở với những quan hệ tài chính đối ngoại hết sức phong phú. Trên thực tế, những quan hệ này không tập trung vào một tụ điểm nhất định mà chúng phân tán, đan xen vào các quan hệ tài chính khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và vị trí đặc biệt quan trọng của quan hệ tài chính đối ngoại cho nên người ta thừa nhận nó hình thành một bộ phận tài chính có tính chất độc lập tương đối. Với những kênh vận động của tài chính như viện trợ, thanh toán xuất nhập khẩu… nếu chỉ đứng trên góc độ của từng tụ điểm vốn ở trong nước để xem xét thì hoạt động tài chính đối ngoại được xem như là một trong số các biện pháp để huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (qua viện trợ, vay nợ từ nước ngoài), huy động vốn của các doanh nghiệp (qua liên doanh, góp vốn cổ phần)… đối với hoạt động tài chính đối ngoại phải đứng trên góc độ tổng hợp, toàn cục để xem xét, nghiên cứu. Khi đó các mối quan hệ cụ thể, cục bộ sẽ hoà nhập vào một tụ điểm duy nhất và quan hệ tài chính sẽ xảy ra giữa hai tụ điểm lớn, đó là quan hệ giữa tài chính quốc gia và tài chính quốc tế và hoạt động tài chính quốc tế cũng có những nét đặc thù riêng và chịu sự tác động của những quy luật biến động tài chính quốc tế.

Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian

Hoạt động của thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ những người có vốn sang những người cần vốn thông qua hoạt động tài chính trực tiếp. Hoạt động dẫn vốn trực tiếp được thực hiện bằng cách những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thực hiện các món vay thế chấp. Những người có vốn sẽ sử dụng tiền vốn của mình để mua vào các công cụ nợ hoặc các cổ phiếu đó. Như vậy, vốn đã được chuyển từ người có vốn sang người cần vốn một cách trực tiếp. Với chức năng này, thị trường tài chính có chức năng thu hút mọi nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển kinh tế, làm nâng cao hiệu quả chung của toàn nền kinh tế và cải thiện mức sống của người tiêu dùng ngay cả khi khả năng thực tế về tài chính của họ chưa cho phép.

Trong hệ thống tài chính, các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông qua hoạt động tài chính gián tiếp. Trước hết các trung gian tài chính huy động vốn từ những người có vốn (người tiết kiệm) bằng nhiều hình thức để tạo thành vốn kinh doanh của mình. Sau đó, sử dụng vốn kinh doanh này để cho người cần vốn vay lại hoặc thực hiện các hình thức đầu tư khác. Bằng cách này, các trung gian tài chính đã tập trung được các nguồn vốn nhỏ, từ các hộ gia đình các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến những khối lượng vay lớn, từ những cá nhân chưa từng ai biết đến tới những công ty lớn có tiếng trên thị trường. Chính vì vậy, các trung gian tài chính đã đáp ứng được những nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được, hoặc giải quyết không có hiệu quả. Tuỳ theo lĩnh vực và phạm vi hoạt động, các trung gian tài chính được chia thành các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp, công ty tài chính…

Trong các bộ phận tài chính kể trên thì Ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng nhất.

* Mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống tài chính

1.3. Quyền lực nhà nước của tài chính công

Tài chính công là tài sản quốc gia, là tiềm lực vật chất có vai trò quyết định, chi phối đến hiệu lực, hiệu quả, việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với xã hội.

– Làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức và công dân.

– Tạo động lực khuyến khích các cơ quan hành chính và sự nghiệp tích cực, chủ động, tự xác định số biên chế cần có…tổ chức và phân công lao động hợp lý, nâng cao chất lượng công việc, sử dụng kinh phí có hiệu quả, hạn chế những đòi hỏi về tăng biên chế và chi phí hành chính

– Nâng cao ý thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí và tăng cường đấu tranh chống các hiện tượng lãng phí, tham ô.

– Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng của mình, nâng cao chất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho tập thể và cá nhân.

1.4. Tác động điều chỉnh và chi phối của tài chính công đối với tài chính khu vục tư

Tài chính công là một phạm trù gắn với các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội.

Đồng thời là công cụ phân phối tổng sản phẩm xã hội điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước, thông qua tài chính nhà nước thực hiện giám đốc bằng đồng tiền mọi hoạt động trong đời sống kinh tế – xã hội kích thích quá trình cạnh tranh trên thị trường của các tổ chức doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, các công cụ tài chính là đòn bảy kinh tế quan trọng được  nhà nước sử dụng có hiệu quả trong qúa trình quản lý đất nước về kinh tế.

Nội dung của tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước (NSNN) từ trung ương đến địa phương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà nước; tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước; tài chính của các đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước (đối với nước ta). Trong đó, NSNN được xem là bộ phận quan trọng nhất, chi phối đến các thành tố khác trong đó có tài chính khu vực tư.

– Sử dụng NSNN đầu tư cơ sở hạ tầng phục thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư

Cơ sở hạ tầng có thể hiểu là hệ thống giao thông vận tải – đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không đường ống. Hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước…Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt, kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước…Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên các quốc gia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt phá, phát triển.

Mối quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư ở đây cũng được thể hiện chặt chẽ:

+ Trong hầu hết các công trình thì Nhà nước đầu tư xây dựng những công trình, sau đó nhượng lại cho tư nhân quản ký khai thác, nhà nước rút vốn ra làm các chương trình khác. Đây là phương thức rất hiệu quả mà nhiều nước đã làm trong đó có Việt Nam

+ Trong một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Nhà nước có vai trò độc quyền, nhưng nhà nước phải vận hành theo các nguyên tắc của thị trường chẳng hạn định giá điện, giá nước, giá vé máy bay…phải theo thị trường – có thê lấy giá thị trường khu vực làm chuẩn để điều chỉnh phù hợp.

+ Việc huy động nguồn vốn của các khu vực tư nhân vào xây dựng cơ sở hạ tầng theo các hình thức BOT, BT…là hoàn toàn cần thiết, đã và đang được bắt đầu áp dụng ở Việt Nam.

Ví dụ: Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên hay còn gọi là Quốc lộ 3 mới là một trong 6 tuyến cao tốc đang xây dựng theo quy hoạch tại miền Bắc Việt Nam. Tuyến đường được thủ tướngNguyễn Tấn Dũng khởi công vào ngày 24 tháng 11 năm 2009 là đường cao tốc loại A dài hơn 61 km đi qua 3 địa phương là Hà Nội, Thái Nguyên và một đoạn ngắn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đường cao tốc có quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 km/h. Tổng mức đầu tư dự án là 8.104 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) 6.093,1 tỷ đồng, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam 2.011,3 tỷ đồng dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Chính vì vậy, vừa qua ngày 25-3, Samsung đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động và máy ảnh kỹ thuật số với tổng công suất trên 100 triệu sản phẩm/năm và có vốn đầu tư 2 tỉ USD, diện tích 67ha nằm trên trục đường chính Hà Nội – Thái Nguyên mới, tại huyện Phổ Yên. Ngoài những lý do nguồn lao động dồi dào, sự ổn định, nhất quán về chính trị ở nước ta, thị trường dồi dào… thì nguyên nhân quan trọng hơn chính bởi cơ sở hạ tầng giao thông được xây dựng thuận lợi để vận chuyển, thông thương buôn bán…

–  Ngân sách nhà nước cung cấp vốn cho khu vực tư phát triển

Nước ta đang trên con dường CNH – HĐH đất nước, khởi điểm từ một vị trí rất thấp, khi mà cơ sở hạ tầng chưa phát triển hoàn chỉnh, tiềm lực của khu vực tư nhân chưa được tập trung và khơi dậy đầu tư từ NSNN có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động các nguồn vốn khác. Đầu tư từ NSNN được coi như mồi lửa để thổi bùng nền kinh tế bước vào thời kỳ hoạt động, điều chỉnh nền kinh tế đi vào ổn định tăng trưởng.

Đầu tư phát triển từ NSNN là một bộ phận của tổng đầu tư xã hội, mỗi sự thay đổi nhỏ của đầu tư phát triển từ NSNN đều tác động trực tiếp tới tổng đầu tư xã hội, tác động đó thường theo tính chất cùng chiều.

Đầu tư phát triển từ NSNN tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. tuy tác động trực tiếp tới nền kinh tế chưa nhiều song nó có tác dụng kích thích tới các nhân tố khác, tạo hành lang cho các thành phần kinh tế khác hoạt động thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Hơn nữa trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đối với vốn NSNN rất lớn. vốn NSNN vừa đảm bảo được nhiều hơn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đảm bảo nâng cao chất lượng bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu khoa học, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại quốc dân, góp phàn cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, tăng cạnh tranh của nền kinh tế theo yêu cầu của hội nhập kinh tế

Đầu tư từ NSNN chi cho phát triển  không những không kìm hãm đầu tư khu vực tư nhân mà còn có tác dụng kích thích mạnh mẽ tới đầu tư ở khu vực này. Đầu tư của khu vực nhà nước mà chủ yếu là từ NSNN ở thời kì này đã tạo ra một cú huých vào tiêu dùng cũng như cầu đầu tư thông qua các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng góp vốn, chung sức xây dựng các công trình công cộng phục vụ lợi ích chung của nhân dân, một loạt các chương trình đã được triển khai như kiên cố kênh mương, xây dựng nhà ở, nâng cấp giao thông nông thôn…Chính phủ cũng đề ra nhiều giải pháp quan trọng để khuyến khích sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thêm vốn và việc làm, cụ thể như bổ sung vốn đầu tư vào công trình quan trọng để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng; tăng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm trọng điểm và xuất khẩu…Do đó nhu cầu tiêu dùng và cầu đầu tư được đẩy mạnh.

– Tham gia vào những ngành tư nhân không đủ vốn hay thu hồi vốn chậm mang tính phúc lợi xã hội cao

Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập theo lao động.

Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội chủ yếu sau: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,… các khu vui chơi, giải trí công cộng không thu tiền (hoặc thu ít), các công trình công cộng phục vụ chung cho mọi người… Tùy theo mức độ phát triển của các mặt kinh tế – xã hội, quỹ phúc lợi thường có ba nhóm cơ bản: quỹ tập trung của Nhà nước quản lý; quỹ phúc lợi của các xí nghiệp, đơn vị kinh doanh và quỹ phúc lợi tập thể của các hợp tác xã, các đơn vị sản xuất. Các quỹ hoạt động dưới hai hình thức: hình thức trả bằng tiền như: tiền lương, tiền hưu trí, các khoản trợ cấp, tiền nghỉ phép, tiền học bổng,… và các hình thức ưu đãi thông qua các dịch vụ không mất tiền hoặc chỉ phải trả một phần nào đó như: giáo dục, y tế,… nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đặc biệt là đối với những người có công đối với đất nước, những người nghèo, vùng nghèo, những đối tượng yếu thế, gặp rủi ro.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc mở rộng và nâng cao phúc lợi xã hội là điều kiện quan trọng để đáp ứng và làm thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động. Các quỹ phúc lợi xã hội là phương tiện cần thiết để điều chỉnh việc phân phối thu nhập xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, khắc phục dần những khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tham gia đòi hỏi phải thực hiện những quan điểm mới, những chính sách và giải pháp mới về phúc lợi xã hội. Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, Nhà nước không thể bao cấp tràn lan, bình quân những chi phí cho phúc lợi xã hội mà cần phải tập trung cho những vấn đề cơ bản và thiết yếu nhất trong đời sống của nhân dân lao động, cho những vùng, những đối tượng còn nhiều khó khăn nhất, đồng thời bảo đảm sự công bằng và hợp lý giữa các thành phần kinh tế, giữa các đơn vị và các cá nhân nhằm khuyến khích và động viên toàn thể nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Phúc lợi xã hội không thể vượt quá những khả năng và điều kiện của nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng không thể bị động, cứng nhắc, phụ thuộc máy móc vào những kết quả của sự phát triển kinh tế. Việc không ngừng nâng cao những phúc lợi xã hội chính là biểu hiện thực tế và sinh động bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta khẳng định tiếp tục phát triển và nâng cao phúc lợi xã hội, coi đó là một động lực quan trọng của sự phát triển bền vững.

– Hệ  thống thuế tác động đến khu vực tư

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh.

 Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng.

Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung – cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung – cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung – cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó.

Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.

Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp. Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp.

–  Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô.

Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.

+ Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.

+ Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.

– Bảo hiểm xã hội

Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao đọng gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế của tổ chức hoạt động của BHXH.

Tiến hành phân phối và phân phối lại thua nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp và quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu và người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội

Góp phần kích thích người lao động hăng hài sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống của họ được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng saauts lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hôi.

Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sủ dụng lao động, giữa người lao động và nhà nước góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Do giữa ngườ lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động … BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qu việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Từ ngày sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần( mỗi năm giảm bình quân 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

– Kích thích khu vực tư bằng những chính sách tài chính phù hợp ( như lãi suất, thuế …)

Cơ chế hỗ trợ lãi suất thời gian qua đã đạt dược mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, hộ sản xuất duy trì sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư, giảm giá thành để tăng khả khả nang cạnh tranh, tạo việc làm, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức độ hợp lý và bền vững ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toén quốc tế… được đảm bảo; góp phàn quan trọng thực hiện mục tiêu hàng đầu là ngăn chăn suy giảm kinh tế.

Đây là một trong những giải pháp kích thích kính kinh tế được lựa chọn tối ưu với cho phí thấp, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Các ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ nới lỏng một cách thận trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và hộ sản xuất tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp ( 4% – 6,5%/năm sau khi được hỗ trợ lãi suất) để sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế suy giảm. Việc tăng vốn cho mở rộng đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu là rất cần thiết nhưng đây cũng là nhân tố tác động làm cho tăng trưởng tín dụng ở mức cao.

Tài trợ thông qua miễn giảm thuế dùng để kích cầu là miễn giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư. Đây là một biện có lợi và có thể giúp duy trì hoặc mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp hưởng lợi.

1.6. Những khuyết tật của thị trường

Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, đảm bảo có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng và coi như là hoàng hóa. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ.

Song ngoài những ưu điểm, kinh tế thị trường còn tồn tại một số khuyết tật sau:

–    Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội. KTTT kéo theo lối sống “tiền trao cháo múc” lạnh lùng, tàn nhẫn, làm băng hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, tấn công vào từng gia đình, từng người. Đã có không ít hiện tượng: từ chỗ coi trọng các giá trị chính trị, xã hội sang tuyệt đối hóa con người cá nhân, thậm chí là cá nhân ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Từ chỗ lấy lý tưởng, đạo đức làm chuẩn mực, chuyển sang coi thường đạo đức, phẩm giá, tuyệt đối giá trị thực dụng, tôn sùng tiện nghi vật chất, coi tiền là trên hết, lấy đồng tiền là thước đo giá trị của con người.

Tiền xâm nhập vào nhiều mối quan hệ đạo đức, xã hội, thậm chí thành nguyên tắc xử thế và tiêu chuẩn hành vi của không tít người. Chính vì vậy mà những hiện tượng tham ô, hối lộ, buôn lậu, lừa đảo, làm hàng giả, mua quan bán chức, chạy chức chạy quyền bằng tiền… Chúng ta đang đấu tranh, ngăn ngừa nhiều năm nay nhưng hiện vẫn đang diễn ra phức tạp và là nỗi lo lắng của xã hội.

–   Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu dẫn đến nguy cơ “thương mại hóa” cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hóa công cộng” (đường sá, các công trình văn hóa, y tế và giáo dục…)

–    Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít, nghèo nhiều, bất công xã hội.

Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể mang lại không chỉ tiến bộ mà còn cả suy thoái, khủng hoảng và xung đột xã hội nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước.

Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, đảm bảo định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó Nhà nước có thể kiềm chế tính tự phát của nền kinh tế thị trường, đồng thời kính thích đối với sản xuất thông qua trao đổi hàng hóa dưới hình thức thương mại.

Thực trạng quản lý tài chính công ở việt nam

1 – Những kết quả đạt được

Việt Nam thực hiện cải cách tài chính công chưa được bao lâu, nhưng những kết quả đạt được trong cải cách là rất cơ bản.

Hệ thống thuế: Sau gần 8 năm thực hiện cải cách, chính sách thuế đã được đổi mới theo hướng thích ứng dần với cơ chế thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thuế đã bảo đảm nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Trong hệ thống chính sách thuế đã từng bước giảm dần sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu; thủ tục hành chính trong thu nộp thuế được đơn giản hóa, công tác quản lý thuế được đổi mới và dần được hiện đại hóa.

Chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng áp dụng thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và bước đầu phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngân sách nhà nước: Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địa phương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủ tục không cần thiết trong cấp phát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính. Bội chi ngân sách nhà nước được xử lý theo hướng tích cực và được kiềm chế trong giới hạn cho phép. Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính bước đầu đã thu được kết quả tích cực.

Cơ chế tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp: Trên cơ sở phân định rõ các đơn vị hành chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, Nhà nước đã ban hành Nghị định số 130/2005/NĐ – CP, ngày 17-10-2005 “Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước” và Nghị định số 43/2006/NĐ – CP, ngày 25-4-2006 “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”. Tóm lại, cơ chế tài chính đối với khu vực hành chính sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theo hướng tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính. Cơ chế tài chính trong việc cung cấp dịch vụ công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu tư để thực hiện và cung cấp một số dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực sự nghiệp, thu hút được nguồn nội lực đáng kể cho phát triển sự nghiệp.

Cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công: Cơ chế này đã được hoàn thiện nhằm tăng cường huy động các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế – xã hội. Bước đầu đã hình thành hệ thống các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý tài sản nhà nước, bao gồm các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, vừa tạo thuận lợi cho đơn vị sử dụng, vừa có tác dụng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính, tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành, các đơn vị trong quản lý và sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản nhà nước, từng bước xác lập chủ sở hữu đích thực về tài sản nhà nước. Hình thành thống nhất tổ chức quản lý tài sản nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA đã được sử dụng để khôi phục, nâng cấp và xây dựng mới hàng loạt các dự án quốc gia quy mô lớn trong các lĩnh vực giao thông, điện, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế, giáo dục và đào tạo. Đồng thời, vốn ODA cũng được chú trọng hơn vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản, sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, lĩnh vực du lịch và dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự gia tăng giá trị sản lượng nông nghiệp và tạo ra nguồn thu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. Nhờ vậy, nguồn vốn ODA đã đóng góp tích cực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, giải quyết các vấn đề xã hội và xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn ODA cho vay lại đối với các doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn để thực hiện các mục tiêu đầu tư cho các doanh nghiệp, thực hiện đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao đời sống cho người lao động.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Việc gia tăng vốn đầu tư thực hiện thể hiện môi trường đầu tư và kinh doanh ở nước ta đã ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện để các dự án sau khi được cấp phép triển khai có hiệu quả. Trong 2 năm gần đây, cơ cấu đầu tư nước ngoài có chuyển biến tích vượt bậc, đặc biệt là việc gia tăng tỷ trọng đầu tư vào kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành mũi nhọn và một số lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.

Quản lý nợ nước ngoài: Đã thực hiện thành công quá trình cơ cấu lại các khoản nợ trước đây của Việt Nam đối với các chủ nợ nước ngoài, làm giảm đáng kể nghĩa vụ trả nợ của Việt Nam, tạo điều kiện khai thông quan hệ tài chính – tín dụng với các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài. Thực hiện thanh toán trả nợ với các khoản vay mới và các khoản đã cơ cấu lại nợ đã bảo đảm trả nợ đúng như các hiệp định đã ký, không để phát sinh nợ quá hạn. Đã linh hoạt xử lý theo hướng chuyển đổi một phần nợ nước ngoài thành các khoản tài trợ cho các dự án đầu tư trong nước; xử lý giảm số nợ thông qua mua lại nợ, chuyển đổi nợ, giảm nợ… Bổ sung, sửa đổi cơ chế chính sách quản lý về vay và trả nợ nước ngoài; tăng cường giám sát về nợ nước ngoài, hợp lý và hiện đại hóa nghiệp vụ quản lý nợ.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện cải cách tài chính công ở Việt Nam còn tiềm ẩn những yếu tố chưa ổn định; chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển còn thấp; nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển lớn, nhưng mức đáp ứng vốn còn hạn chế, nhiều tiềm năng vốn trong nước và vốn nước ngoài chưa được khai thác tốt.

Đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng cao, nhưng mức đóng góp vào tăng trưởng thấp, chưa tương xứng. Quy mô tài chính còn nhỏ, cân đối ngân sách nhà nước chưa thực sự vững chắc, tỷ trọng thuế trực thu còn thấp. Vốn đầu tư thực hiện tăng, nhưng tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng giảm do tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chậm hơn tốc độ tăng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác.

Cơ cấu đầu tư nước ngoài còn mất cân đối cả về cơ cấu vùng và ngành. Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng giảm sút so với các năm trước. Mặc dù, Chính phủ đã áp dụng chính sách ưu đãi, nhưng đầu tư nước ngoài vào các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn chưa đáng kể. Chưa chú ý khai thác vốn thông qua các “kênh” gián tiếp và thông qua thị trường vốn. Phạm vi đánh thuế còn hạn hẹp, hệ thống thuế chưa bao quát hết các nguồn thu nhập, bỏ sót nguồn thu và đối tượng nộp thuế.

Tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước chưa được khắc phục, bao cấp chưa được xóa bỏ triệt để; hiệu quả đầu tư còn thấp; thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng đất đai, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi tiêu ngân sách còn nghiêm trọng, chi tiêu hành chính còn nhiều bất hợp lý, chi ngân sách cho một số lĩnh vực nhu cầu chăm lo phát triển con người như giáo dục, y tế chưa đáp ứng nhu cầu cần thiết. Trong nông nghiệp còn nặng về đầu tư thủy lợi (chiếm khoảng 70%) chủ yếu phục vụ trồng lúa; việc đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu giống cây con, chuyển giao công nghệ, chế biến để nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế. Trong công nghiệp và các ngành kinh tế còn quá chú trọng đầu tư để tăng công suất (số lượng) chưa chú ý đến đầu ra của sản phẩm; công tác quy hoạch ngành còn nhiều hạn chế. Hệ số ICOR những năm 1991 – 1995 khoảng 3,5 (để tăng được 1 đồng GDP cần đầu tư 3,5 đồng), những năm 1996 – 2000 hệ số này là 5 và từ năm 2001 – 2007 là 4,58.

Như vậy, trong khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng vượt so với mục tiêu Đại hội X đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế có tăng, nhưng chưa tương xứng với mức đầu tư bỏ ra.

Sở dĩ có tồn tại trên là do các nguyên nhân: Thể chế tài chính trong kinh tế thị trường chậm hình thành, hệ thống chính sách, pháp luật về tài chính thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, thậm chí còn mâu thuẫn, nên đã cản trở quá trình vận hành theo cơ chế thị trường, chưa tạo ra hành lang thuận lợi để phát huy hết các tiềm năng và nguồn lực của nền kinh tế. Trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống pháp luật theo hướng tiến tới một mặt bằng pháp lý chung đã có những thay đổi bất lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn, việc thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm ưu đãi về thuế, nhất là đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất tại các trung tâm đô thị lớn và các dự án thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư. Việc giảm ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư nước ngoài cũng như chính sách đối với ô-tô, xe máy đã làm cho nhiều nhà đầu tư lo ngại về sự thiếu nhất quán của chính sách đầu tư nước ngoài của nước ta, đồng thời, cản trở việc quyết định đầu tư của một số dự án, trong đó có những dự án quy mô lớn, sử dụng công nghệ cao.

Nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ gặp ách tắc do chủ trương chưa rõ ràng, các vướng mắc trong công tác quy hoạch ngành chưa được tháo gỡ, cản trở các nhà đầu tư. Việc suy giảm đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ đã làm hạn chế kết quả thu hút đầu tư nước ngoài. Nhận thức về vai trò của tài chính và thị trường vốn trong việc mở đường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội còn hạn chế, nên tư duy trong hoạch định chính sách tài chính và phát triển thị trường tài chính chậm đổi mới, thiếu tính đột phá trong hoạch định chính sách. Trong nhận thức còn nặng về tư duy “tài chính phục vụ sản xuất”, “tài chính bảo đảm vốn cho mọi hoạt động” dẫn đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư không gắn với thẩm quyền phân bổ vốn, kết quả là quyết định đầu tư vượt quá khả năng nguồn vốn đầu tư, làm cho vốn đầu tư dàn trải, nợ xây dựng cơ bản lớn, đầu tư kém hiệu quả.

Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược phát triển các ngành kinh tế với chiến lược tài chính, chiến lược thuế… dẫn đến sự chắp vá trong việc hình thành cơ chế, chính sách; đồng thời làm cho chính sách thường xuyên thay đổi, gây mất ổn định trong môi trường đầu tư. Công tác phân tích dự báo chưa được coi trọng đúng mức khi nghiên cứu hoạch định chính sách, dẫn đến thường xuyên phải bổ sung, sửa đổi, tạo ra sự không đồng bộ, không nhất quán. Tư tưởng bao cấp, tâm lý muốn được Nhà nước bảo hộ còn nặng nề; thói quen và dấu ấn quản lý theo kiểu cũ vẫn tồn tại và không dễ xóa bỏ đã gây cản trở không nhỏ cho quá trình đổi mới trong lĩnh vực tài chính.

Các doanh nghiệp còn có tư tưởng trông chờ vào nguồn tín dụng ưu đãi, không muốn huy động trên thị trường vốn. Trong quản lý còn nặng về tư tưởng “xin – cho”. Chẳng hạn, trong xây dựng cơ bản xuất hiện tình trạng “xin – cho” trong việc bố trí vốn đầu tư, bổ sung vốn kế hoạch hằng năm, ưu đãi về tín dụng, miễn giảm thuế… ; không những xin cho về cơ chế, mà còn xin nới lỏng cơ chế (như xin kéo dài, châm chước các thủ tục đầu tư hoặc xin những “vận dụng” trái nguyên tắc). Chưa kiên quyết trong việc đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, chuyển đổi sở hữu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm tiến trình cổ phần hóa chậm so với kế hoạch, nhất là các doanh nghiệp nhà nước lớn, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều lĩnh vực, đặc biệt là làm hạn chế sự phát triển của thị trường chứng khoán. Chưa kiên quyết trong việc chuyển nhanh các đơn vị sự nghiệp sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Triển khai thực hiện cải cách hành chính trong ngành tài chính tiến triển chậm, công tác tổ chức, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có năng lực quản lý trong các lĩnh vực tài chính đã được tăng cường, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn.

2 – Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tài chính công trong thời gian tới

Xu hướng chung hiện nay, các nước trên thế giới đang thúc đẩy một cách mạnh mẽ cải cách hoạt động tài chính công. Có nhiều lý do, song chủ yếu vẫn là:

Xét ở góc độ vật chất, tài chính công là một phần của cải của xã hội dưới hình thức giá trị được giao cho khu vực công sử dụng. Trên thực tế hiện nay, đa phần nguồn của cải đó đang bị khu vực công sử dụng chưa được hiệu quả như mong muốn, trong khi nguồn lực của đất nước có hạn.

Ở nhiều góc độ, hoạt động của tài chính công có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nếu hoạt động của tài chính công được triển khai theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế cải cách hành chính, đáp ứng với những đòi hỏi hợp lý của các lực lượng thị trường sẽ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngược lại, nếu hoạt động của tài chính công không hiệu quả, không thích ứng với bối cảnh kinh tế, xã hội mới, thì sẽ là lực cản cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội.

Cải cách hoạt động tài chính công là xu hướng phổ biến của các nước có liên quan mật thiết với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và là yêu cầu bắt buộc đối với các nước khi tham gia vào các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế.

Cải cách tài chính công ở nước ta cần phải vừa góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mặc dù đã hơn 20 năm đổi mới, nhưng cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp vẫn chưa hoàn toàn bị xóa bỏ. Nhiều hoạt động của nền kinh tế rất có thể “nhân danh” vì lợi ích chung, vì thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước mà tài chính công bị lợi dụng và lạm dụng. Vì thế, để đổi mới tài chính công có hiệu quả, cần nắm vững quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường.

Cải cách phải phù hợp với yêu cầu mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Mở cửa và hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải tuân thủ những luật chơi chung đã cam kết với các tổ chức khu vực và quốc tế. Điều đó đòi hỏi phải có những cải cách về mặt hành chính, trong đó có cải cách tài chính công sao cho phù hợp với những quy định và cam kết quốc tế, bảo đảm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và của nền kinh tế là vấn đề có ý nghĩa sống còn.

Trên cơ sở đó, những mục tiêu cần phải đạt được trong thời gian tới là:

– Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả các khoản chi tài chính của khu vực công. Các khoản chi tài chính của khu vực công đa phần là do ngân sách nhà nước đảm nhận, có đặc điểm không hoàn trả trực tiếp, không có tính chất ngang giá, lại có phạm vi rộng, khối lượng chi lớn. Thực tế của các nước cho thấy các khoản chi này hiệu quả thấp, lãng phí còn lớn. Vì vậy, cần coi trọng và thực hiện bằng được mục tiêu tiết kiệm và hiệu quả các khoản chi của khu vực công trong quá trình cải cách, đổi mới tài chính công.

– Cải cách, đổi mới tài chính công phải hướng tới mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc cải cách hành chính nhà nước, bảo đảm cho bộ máy hành chính hoạt động tốt hơn (trung thực, minh bạch, gần dân hơn, không cửa quyền, không tham nhũng) chuyên nghiệp hơn, điều hành có hiệu quả hơn hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước. Hoạt động của tài chính công không chỉ có tác dụng cung cấp nguồn lực tài chính cho bộ máy công quyền hoạt động, mà điều quan trọng là phải thông qua hoạt động tài chính công để có tác động mạnh mẽ đến việc điều chỉnh tổ chức và tính hiệu quả của hoạt động bộ máy. Vì vậy, gắn việc cải cách đổi mới tài chính công với bộ máy trong sạch vững mạnh được coi là một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách, đổi mới tài chính công.

– Thông qua cải cách, đổi mới hoạt động tài chính công phải bảo đảm cho việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả hơn. Ngày nay, đa phần các nguồn lực của tài chính công đều được sử dụng cho việc sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng. Hầu hết việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng đều do bộ máy công quyền từ trung ương đến địa phương đảm nhận. Nếu bộ máy công quyền thiếu trung thực, không minh bạch, nạn tham nhũng diễn ra tràn lan, thì việc sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng khó đạt được yêu cầu công bằng và hiệu quả. Do đó, vấn đề đặt ra là việc cải cách, đổi mới hoạt động tài chính công phải hướng vào mục tiêu bảo đảm công bằng và hiệu quả. Tài chính công có cấu trúc đa dạng bao gồm nhiều thành phần như đã đề cập ở phần trên. Hoạt động của tài chính công thực chất là hoạt động của các thành phần của tài chính công. Do đó, nội dung đổi mới, cải cách tài chính công là đổi mới thu – chi ngân sách nhà nước, đổi mới hoạt động của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước, đổi mới tài chính của các cơ quan công quyền, các đơn vị sự nghiệp công lập…

– Đối với thu – chi ngân sách nhà nước nội dung đổi mới bao gồm đổi mới chính sách, cơ chế, quy trình làm thay đổi căn bản cách thức thu – chi ngân sách nhà nước, bảo đảm ngân sách nhà nước thực sự là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

– Đối với hoạt động các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nội dung đổi mới là gia tăng tỷ trọng huy động các nguồn lực tài chính nhàn rỗi của xã hội trên cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của số lượng các quỹ và sử dụng chúng một cách có hiệu quả.

– Đối với tài chính của các cơ quan công quyền và các đơn vị sự nghiệp công lập, nội dung đổi mới là tập trung nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn việc đổi mới với công cuộc cải cách hành chính và việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả.

Trên cơ sở những mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với cải cách tài chính công trong thời gian tới là:

– Tiếp tục cải cách thuế cho phù hợp với tình hình đất nước; yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phù hợp với và các cam kết quốc tế. Bổ sung, hoàn thiện, đơn giản hóa các sắc thuế, từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất, không phân biệt doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào. Cơ cấu lại nguồn thu, khắc phục tình trạng hạn hẹp trong phạm vi đánh thuế gây ra bỏ sót nguồn thu và đối tượng nộp thuế, đáp ứng yêu cầu động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước. Hiện đại hóa công tác thu thuế và đổi mới quản lý thu thuế.

– Cần tiếp tục hoàn thiện phân cấp ngân sách bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương và các ngành trong việc quản lý tài chính và ngân sách đã được phân cấp.

– Khắc phục tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước và cơ cấu lại hợp lý các khoản chi ngân sách, bảo đảm tính hiệu quả và công bằng trong chi tiêu ngân sách nhà nước. Cân đối ngân sách một cách tích cực. Nâng cao hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước từ xác định chủ trương, lập và duyệt dự án đến thực hiện dự án.

– Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị hành chính và sự nghiệp theo Nghị định số 130/2005/NĐ – CP và Nghị định số 43/2006/NĐ – CP của Chính phủ đã ban hành.

– Nhà nước cần khẩn trương nghiên cứu để trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản; nó là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là cơ chế quản lý vốn, tách bạch tài chính doanh nghiệp với tài chính nhà nước.

– Nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát kết quả quản lý và sử dụng tài chính công.

– Quy định rõ ràng trách nhiệm vật chất của những người đứng đầu cơ quan chính quyền nhà nước mỗi cấp trước kết quả quản lý tài chính công của cấp đó.

– Đổi mới công tác thanh tra, giám sát tài chính trong toàn bộ quá trình quản lý tài chính công./.

Cải cách tài chính công

Bước tiến lớn trong cải cách tài chính công

Trong năm 2019, Bộ Tài chính đã nỗ lực tổ chức thực hiện điều hành dự toán, quản lý thu, chi và công khai, minh bạch ngân sách nhà nước (NSNN). Trong đó, tổng thu cân đối NSNN đến ngày 31/12/2019 đạt 1.549,5 nghìn tỷ đồng, vượt 138,2 nghìn tỷ đồng (+9,79%) so dự toán… Quản lý chi NSNN chặt chẽ trong phạm vi dự toán, tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN, tăng tỷ trọng dự toán chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng dự toán chi thường xuyên, đồng thời kết hợp cơ cấu lại chi trong từng lĩnh vực gắn với đổi mới sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới khu vực sự nghiệp công.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng làm tốt công tác quản lý tài chính doanh nghiệp và cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước; Công tác quản lý thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; Cải cách tài chính công nội ngành Tài chính…

Đặc biệt, nhằm đẩy mạnh và triển khai quyết liệt đối với công tác cải cách tài chính công, Bộ Tài chính đã thực hiện việc công khai đầy đủ, kịp thời các loại tài liệu ngân sách theo quy định trong chuyên mục công khai ngân sách trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.

Đồng thời, nhằm cung cấp thông tin về dự toán NSNN cho người dân một cách dễ hiểu và đơn giản nhất, Bộ Tài chính đã công bố “Báo cáo ngân sách dành cho công dân về Dự toán NSNN năm 2020 trình Quốc hội”. Bằng ngôn ngữ và hình thức thể hiện ngắn gọn, dễ hiểu thông qua các biểu đồ, đồ họa, báo cáo giúp người dân có thể tiếp cận và nắm bắt được các thông tin cơ bản về NSNN.

Báo cáo ngân sách được Bộ Tài chính đăng tải công khai tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, phát hành ấn phẩm và công bố rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thông qua đó, người dân có thể tham gia giám sát việc quản lý, sử dụng ngân sách và có thể đóng góp tiếng nói của mình đối với vấn đề phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN đến Quốc hội thông qua các Đại biểu quốc hội.

Đây là năm thứ 6 Bộ Tài chính xuất bản Báo cáo ngân sách dành cho công dân kể từ năm ngân sách 2015, một trong những hình thức quan trọng thúc đẩy công khai, minh bạch ngân sách ở Việt Nam thông qua đánh giá của các tổ chức minh bạch quốc tế.

Ngày 30/7/2019, trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân vào quản lý NSNN”, do tổ chức Oxfam tài trợ, Liên minh Minh bạch ngân sách, Trung tâm Phát triển và Hội nhập đã tổ chức hội thảo công bố Chỉ số công khai ngân sách bộ, cơ quan trung ương 2018. Theo kết quả công bố, Bộ Tài chính xếp thứ 3/37 bộ, cơ quan Trung ương thuộc đối tượng đánh giá.

Tiếp tục triển khai nhiều giải pháp trong cải cách tài chính công

Nhằm tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả trong quản lý thu chi NSNN; giám sát và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tài chính công, ngay từ đầu năm 2020, Bộ Tài chính đã triển khai quyết liệt nhóm giải pháp. Cụ thể:

Một là, nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính; Rà soát chính sách thuế, phí, lệ phí, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế; Quản lý chặt chẽ nguồn thu NSNN từ thuế, mở rộng cơ sở thuế nội địa; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, chống thất thu NSNN, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

Hai là, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính; Thực hiện phân bổ NSNN tập trung, sử dụng hiệu quả; Thực hiện cơ cấu chi NSNN vững chắc; Cải cách quản lý ngân quỹ nhà nước an toàn, hiệu quả; Đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.

Ba là, thực hiện đúng quy định của Luật NSNN năm 2015 về công khai NSNN, đa dạng hoá các hình thức công khai NSNN; Hướng dẫn, đôn đốc và giám sát việc thực hiện công khai NSNN của các địa phương.

Bốn là, đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính doanh nghiệp, thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước; Theo dõi, đôn đốc tiến độ cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, tình hình thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, phát triển đồng bộ thị trường tài chính và dịch vụ tài chính: thị trường chứng khoán ổn định, vững chắc, hoạt động hiệu quả; thị trường bảo hiểm lành mạnh, an toàn; đồng bộ thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán; nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá của Việt Nam; thị trường trái phiếu theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh đi đôi với tái cấu trúc thị trường tài chính.

Sáu là, đẩy mạnh hoạt động hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính; Tăng cường theo dõi, giám sát thực hiện quá trình hội nhập; Chuẩn bị các điều kiện để thực hiện tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2020.

Bảy là, giám sát an toàn về nợ công, nợ quốc gia, nợ Chính phủ; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay về cho vay lại; Xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia 5 năm giai đoạn 2021-2025.

Giáo trình tài chính công

Giáo trình Tài chính công – GS.TS Vũ Văn Hóa

Bài tập tài chính công

Đề bài: Vai trò, ý nghĩa của Thuế với nguồn thu ngân sách nhà nước và sự điều chỉnh cúa pháp luật về thuế để nhằm điều hòa lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác.
Bài làm:
A- ĐẶT VẤN ĐÊ
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tài chính. Hiện tượng ngân sách nhà nước- với tính cách là một hiện tượng tài chính đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên nền của kinh tế hàng hóa- tiền tệ và sự hình thành, phát triển của Nhà nước. Bởi vì, bất kỳ một Nhà nước nào cũng cần phải có các nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu, nhằm duy trì sự tồn tại của Bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nó. Ngân sách đã luôn luôn được sử dụng để huy động nguồn tài chính đáp ứng cho những nhu cầu chi tiêu đó của Nhà nước.
Trong xã hôi có nhà nước, điều mang tính quy luật là Nhà nước phải tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sáng tạo ra từ bản thân nền kinh tế. Mục đích của việc tham gia phân phối của Nhà nước là nhằm thu về tay mình những nguồn của cải để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trước hết là để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, sau nữa là để thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm. Ngân sách Nhà nước là một hình thức, một công cụ để Nhà nước tham gia (thực hiện) quá trình phân phối đó. Do đó, thu ngân sách nhà nước là một loại hoạt động Nhà nước, hoạt động của một tổ chức quyền lực công, luôn gắn với yếu tố quyền lực chính trị của Nhà nước. Từ dó có thể hiểu “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành Quỹ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu ngân sách Nhà nước là một hoạt động rất quan trọng của Nhà nước, tạo ra thu nhập tài chính của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thu ngân sách Nhà nước là hoạt động mang nội dung kinh tế, vì các mục tiêu kinh tế trực tiếp, nhưng luôn hàm chứa yếu tố quyền lực chính trị và không tách rời yếu tố Nhà nước, pháp quyền và các mục tiêu chính trị của Nhà nước.
Các khoản thu Ngân sách Nhà nước là những hình thức cụ thể của thu ngân sách Nhà nước. Thông qua các khoản thu này mà những bộ phận thu nhập của dân cư, những giá trị sản phẩm xã hội được tập trung vào tay Nhà nước dưới những nguyên tắc, nội dung và cách thức khác nhau, nhưng đều nhằm hình thành Quỹ ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời cũng thông qua các khoản thu này, Nhà nước thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất, tiêu dung và điều tiết thu nhập trong xã hội. Trong cơ cấu các khoản thu ngân sách Nhà nước, thuế là khoản thu quan trọng nhất, chiếm khoảng 15% so với GDP và khoảng gần 90% tổng số thu ngân sách nhà nước.

PHẦN 1: LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀTC-TT VÀQLNN ĐỐI VỚI TC-TT
1. Phân tích các chức năng của tiền tệ và nội dung của quy luật LTTTệ?
2. Phân vai trò của tài chính trong quátrình phát triển kinh tế–xã hội của quốc gia? Cho vídụđểchứng minh?
3. Phân tích những chức năng cơ bản của tài chính? Trong thực tếchức năng tạo vốn ởnước ta được vân dụng như thếnào?
4. Cấu trúc của hệthống tài chính vàmối quan hệgiữa các bộphận cấu thành hệthống tài chính?
5. Phân tích nội dung cơ bản của chính sách tiền tệquốc gia vàviệc tổchức thực hiện những nội dung trên?
6. Vì sao phải QLNN đối với TC – TT? Để thực hiện QLNN đối với TC-TT trong thời kỳ đổi mới, nhà nước cần phải thực hiện nguyên tắc gì?
CHƯƠNG 2: QL VÀĐIỀU HÀNH NSNN
1. Hãy chứng minh bằng lý luận vàthực tếvai trò quan trọng của Ngân sách nhànước đối với quátrình phát triển kinh tế–xã hội của đất nước?
2. Để  quản lý Ngân sách nhànước được tốt cần tuân theo những nguyên tắc nào trong quản lý vàsửdụng? Liên hệvới thực tiễn?
3. Thẩm quyền thu Ngân sách nhànước của mỗi cấp chính quyền? Đềxuất biện pháp nâng cao vai trò của mỗi cấp chính quyền trong quản lý thu Ngân sách nhànước?
4. Đểtăng cường QLNN vềthuếcần phải làm tốt những công việc gì? Liên hệvới thực tế?
5. Phân tích những nội dung cơ bản của QLNN vềchi Ngân sách nhànước?
CHƯƠNG 3: QLNN ĐỐI VỚI TÍN DỤNG
1. Những nội dung cơ bản của QLNN vềtín dụng, lãi suất? Liên hệvới thực tiễn việc điều chỉnh lãi suất của Nhànước?
CHƯƠNG 4: QLNN ĐỐI VỚI THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Đểphát huy tính tích cực vàhạn chếnhững mặt tiêu cực của thịtrường tài chính, nhànước cần phải làm tốt chức năng gì?
1. Phân tích những nội dung cơ bản của QLNN đối với thịtrường chứng khoán? Liên hệvới thực tế?
CHƯƠNG 5: QLNN ĐỐI VỚI BẢO HIỂM
1. Để phù hợp với xu thế phát triển của bảo hiểm, trong hoạt động QLNN cần phải đảm bảo những nội dung gì? Vì sao?
2. Phân tích nội dung chủ yếu của chế độ Bảo hiểm xã hội ở nước ta?
CHƯƠNG 6: CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
1. Khái niệm, vai trò của chế độ kế toán. Nội dung khái quát của chế độ kế toán hiện hành của nước ta.
2. Nội dung của kiểm tra kế toán, tác dụng của nó đối với công tác quản lý tài chính.
3. Nội dung cơ bản của chế độ sổ kế toán, vai trò của sổ kế toán trong công tác quản lý tài chính.
CHƯƠNG 7: QLNN ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN
1.Sự cần thiết của hoạt động kiểm toán, Khái niệm, chức năng của kiểm toán.
2.Vì sao nói kiểm toán là 1 nhu cầu tất yếu khách quan, là một công cụ quản lý kinh tế.
3. Vai trò của Kiểm toán Nhà nước. Phân biệt các loại hình kiểm toán theo chủ thể tổ chức.
4. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán. Liên hệ thực tiễn.
CHƯƠNG 8: THANH TRA TÀI CHÍNH
1. Phân biệt kiểm tra kế toán, kiểm toán và thanh tra tài chính.
2. Vai trò của thanh tra tài chính trong hoạt động quản lý nhà nước? Liên hệ thực tế?
tag: marketing tp hcm 61/2017 trắc nghiệm bảng bệnh